Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Thuế Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại cục Thuế tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại cục Thuế tỉnh Thanh Hóa 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH THUẾ 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Nhân lực và nguồn nhân lực 1. Nhân lực Nhân lực được hiểu là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động trong cuộc sống.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đạt đến một mức độ nào đó thì con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động [3,tr7]. Nhân lực có nghĩa rộng và nghĩa hẹp: - Nghĩa rộng: Nhân lực là dân số sống trong một quốc gia, khu vực, địa phương, được đăng ký thường trú trên một địa phương nhất định. - Nghĩa hẹp: Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động do pháp luật quy định độ tuổi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất. Từ các quan điểm và nhận định trên, tôi đi đến một nhận định chung về nhân lực như sau: Nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để hình thành, duy trì và đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức, đơn vị, xã hội.
Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo đơn vị) tức là tất cả các thành viên trong đơn vị sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển đơn vị. Nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực” được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”. Nó được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế xã hội, NNL bao gồm bộ phận dân số trong độ 8 tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động – hay còn được gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động.
Dưới cách nhìn nhận của chuyên ngành Kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực là tổng hòa của thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của mỗi quốc gia, đó là sự kết tinh của những truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử phát triển, từ đó sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội. Theo Giáo trình kinh tế Nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[10,tr12]. Trên giác độ đơn vị, tác giả Nguyễn Quốc Tuấn [8,24] đã định nghĩa nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong khi đó nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, gồm thể lực, trí lực, nhân cách con người, được huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của một đơn vị. Tuy có những định nghĩa khác nhau theo các góc độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực là: - Thứ nhất, về số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Đó là những 9 câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
- Thứ hai, về chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ v.v… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Thứ ba, về cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi v.v… Cơ cấu nguồn nhân lực của một số quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhân lực.
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm trên, khái niệm nhân lực được hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Vì vậy trước hết và quan trọng khi nghiên cứu nhân lực là phải xác định vai trò quyết định của con người bằng lao động sáng tạo để xây dựng xã hội văn minh, không ngừng phát triển và hướng tới một mục tiêu đã định. Đề cập đến nguồn lực con người không chỉ có trí lực, thể lực mà còn phải có phẩm chất đạo đức, nhân cách thẩm mỹ, tác phong làm việc và sự kết hợp giữa các yếu tố đó phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá 1.
Chất lượng nguồn nhân lực Việc xem xét nhân tố con người với tư cách là một nguồn lực cơ bản trong sự phát triển kinh tế - xã hội đã dần hình thành khái niệm mới: “nguồn nhân lực” hay “nguồn lực con người”. Như vậy có thể thấy, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu khá rộng với các mức độ khác nhau. Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực là “số dân và chất lượng con người, gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực 10 và phẩm chất. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực được hiểu là “lực lượng lao động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng; hay bao gồm những người được đào tạo và chưa được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc đang không làm việc”.
Theo cách hiểu hẹp nửa thì “nguồn nhân lực là lực lượng lao động đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng nhưng đang không có việc làm (đang trong tình trạng thất nghiệp) [1,tr12]. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường dựa vào tri thức, nguồn nhân lực đòi hỏi phải được nâng cao chất lượng và củng cố số lượng và thể lực. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể được hiểu là lực lượng lao động đủ sức khỏe đã qua đào tạo hoặc tự đào tạo đạt tới một trình độ chuyên môn, tay nghề nhất định, được sử dụng đúng ngành nghề, chuyên môn đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách sáng tạo và hiệu quả [9,tr34]. Nguồn nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa với bằng cấp hình thức, học hàm, học vị.
Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ những phẩm chất đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và năng lực của con người có ảnh hưởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tương lai của mỗi tổ chức, đơn vị [2,tr12]. Trong thực tế, rất khó xác định được chất lượng nguồn nhân lực đang tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm. Xem xét vai trò của chất lượng nguồn nhân lực có thể thông qua các yếu tố làm cho lao động có năng suất hơn. Đó là các chỉ tiêu nói lên trình độ học vấn, sức chịu đựng cả thể chất lẫn tinh thần, kinh nghiệm được tích lũy trong lao động sản xuất, mọi khả năng và bí quyết để nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, số lao động chỉ phản ánh một mặt đóng góp của lao động vào phát triển kinh tế, còn chất lượng lao động giữ vị trí quyết định, chi phối quá trình cạnh tranh phát triển của nền kinh tế. Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực và tâm lực, trong đó: 11 - Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó, có sức khỏe để học tập và làm việc lâu dài… thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung. - Trí lực: là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề. Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con người, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão.
- Tâm lực: là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội. Những giá trị từ chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức của xã hội vươn tới, nhất là trong hoạt động, trong lối sống, nếp sống hàng ngày. Lối sống đạo đức con người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, có giá trị văn hóa được kết tinh trong người lao động. Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
Tính “thẩm mỹ” được thể hiện bên trong các yếu tố tạo nên chất lượng nguồn nhân lực, tính “thẩm mỹ” bộc lộ trong từng nội dung của “trí lực”, “tâm lực” và “thể lực”.