CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên 1. Các khái niệm cơ bản 1. Thuế là gì Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng mục đích công cộng [3, tr4].
Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của một nhà nước. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế [7, tr8] 1.
Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là sắc thuế đánh vào người khai thác, thu mua tài nguyên thiên nhiên theo quy định [1, tr113]. Thuế tài nguyên là khoản thu của ngân sách nhà nước (NSNN) nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia, tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài 6 nguyên theo quy định của pháp luật. Quản lý thuế tài nguyên Quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, là hoạt động, tác động điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế [2, tr7]. Quản lý thuế tài nguyên là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế; xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các nội dung quản lý thuế, chính sách thuế Nội dung quản lý thuế tài nguyên: bao gồm đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, quản lý thông tin người nộp thuế, kiểm tra – thanh tra thuế, cưỡng chế – xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại… 1.
Đặc điểm của thuế tài nguyên Là sắc thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên nên đối tượng chịu thuế hẹp; Chỉ đánh vào người có hoạt động khai thác hoặc thu mua tài nguyên; Đối tượng đánh thuế hẹp; số thu không lớn, Mục đích để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tạo nguồn lực tái tạo lại tài nguyên [1, tr113] Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, là khoản thu của NSNN do Nhà nước quản lý, mặc dù không phải là nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhưng cũng đóng góp tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước. Tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác hay sử dụng tài nguyên thực hiện kê khai thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác theo quy định. Vai trò của thuế tài nguyên Là nguồn thu cho NSNN, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác ồ ạt, phá hủy tài nguyên thiên nhiên, là công cụ bảo vệ tài nguyên đất nước [1, tr113]. 7 Như vậy thuế tài nguyên đóng góp nguồn thu khá quan trọng cho Ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ trong công tác quản lý thuế và tái tạo tài nguyên của đất nước nói chung và từng địa phương có tài nguyên đã khai thác nói riêng.
Một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên. Thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường. Các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý thuế tài nguyên 1. Yếu tố chủ quan * Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức thuế Trong thực tế thực hiện nay các đơn vị khai thác và sử dụng tài nguyên cũng luôn tìm cách tránh nghĩa vụ thuế, kê khai thuế phát sinh không đúng thực tế.
Vì vậy cơ quan thuế cần nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên, mỗi công chức thuế có các kỹ năng tác nghiệp thật tốt, am hiểu mọi chính sách pháp luật thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng để kịp thời hướng dẫn và uốn nắn những hành vi kê khai sai của doanh nghiệp, tham mưu lãnh đạo xử lý vi phạm các trường hợp NNT kê khai sai và gian lận trốn thuế. Do đó cần phải thường xuyên cập nhật các chính sách thuế mới để tác nghiệp có hiệu quả. * Cơ chế phối hợp giữa các bộ phận chức năng của cơ quan thuế Bộ máy hoạt động của cơ quan thuế bao gồm các bộ phận chức năng, thực hiện nhiệm vụ theo quy định, quy trình quản lý thuế của Ngành thuế. quản lý hiệu quả thuế cần phải có sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng 8 trong cơ quan thuế như bộ phận kê khai tiếp nhận hồ sơ kê khai, bộ phận quản lý nợ tra cứu số liệu từ bộ phận kê khai để đôn đốc các khoản tiền thuế phát sinh do NNT kê khai, bộ phận kiểm tra lấy thông tin từ bộ phận kê khai để xem xét tính hợp lý và hợp lệ của NNT trong quá trình kê khai thuế đã đúng với các quy định của pháp luật.
* Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và UBND nhân dân các địa phương và các sở ban ngành liên quan Nhà nước giao cho UBND các địa phương chịu trách nhiệm quản lý tài nguyên tại nơi địa phương của mình quản lý, các trường hợp khai thác phải có giấy phép thì phải thông qua các Sở, Ban ngành liên quan, vì vậy quản lý thuế tài nguyên cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan thuế và UBND các địa phương cùng các Sở, Ban ngành liên quan. Theo quy định thuế tài nguyên là nguồn thu quan trọng của ngân sách địa phương do được điều tiết 100% cho ngân sách địa phương (trừ dầu khí) theo Luật Ngân sách Nhà nước. Do đó UBND các địa phương đều có trách nhiệm quản lý thuế tài nguyên vừa đảm bảo đúng chức năng và nguồn thu cho địa phương. Yếu tố khách quan * Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Trong hoạt động sản xuất kinh doanh NNT thường có mục tiêu là đạt lợi nhuận cao và nộp thuế với mức thấp nhất nhưng đảm bảo đúng chính sách thuế quy định.
Vì vậy NNT luôn luôn tìm cách lách luật nên thông thường việc kê khai thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế phát sinh phải nộp thực tế. Mặt khác nhằm giảm bớt thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NNT trong quá trình sản xuất kinh doanh, Ngành thuế đã thực hiện cơ chế “tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm”, NNT có sự chủ động trong việc 9 thực hiện nghĩa vụ thuế vì vậy phát sinh nhiều tình huống hành vi kê khai thuế không đúng do NNT tìm cách luật một phần cố ý hoặc chưa am hiểu về quy định pháp luật về thuế. * Sự thay đổi của hệ thống chính sách đối với thuế tài nguyên Doanh nghiệp hoạt động và sử dụng tài nguyên ngày các nhiều do đó tài nguyên ngày càng cạn kiệt, việc khai thác bừa bãi và sử dụng tài nguyên không đúng mục đích, trong khi đó thất thu thuế tài nguyên vẫn đang tiếp diễn và ngày càng tinh vi. Mặt khác trong quá trình thực hiện một số chính sách thuế tài nguyên không còn phù hợp với thực tế do đó Nhà nước có những sự thay đổi mới về chính sách, tuy nhiên việc tuyên truyền một số địa phương về chính sách thuế còn hạn chế, vì vậy NNT chưa cập nhật kịp thời về chính sách thuế mới dẫn đến kê khai sai gây thất thu thuế tài nguyên.
Nội dung quản lý thuế tài nguyên 1. Kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế 1. Về kê khai thuế Trách nhiệm của tổ chức và cá nhân nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuế bao gồm: Tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp; Tổ chức, cá nhân thu mua tài nguyên đăng ký nộp thuế tài nguyên thay cho tổ chức, cá nhân khai thác nhỏ lẻ thì thực hiện nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở thu mua tài nguyên và tổ chức được giao bán loại tài nguyên thiên nhiên bị bắt giữ, tịch thu thực hiện nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên theo từng lần phát sinh cho cơ quan thuế nơi bán tài nguyên quy định [4, tr21]. Khai thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là loại kê khai theo tháng và khai quyết toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm có quyết định về việc 10 doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động [4, tr22] Hồ sơ khai thuế tài nguyên bao gồm: tờ khai thuế tài nguyên kê khai tháng và quyết toán năm Thời hạn kê khai và nộp hồ sơ thuế tài nguyên: Đối với kê khai thuế tháng chậm nhất là ngày thứ 20 (hai mươi) của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế; Đối với kê khai quyết toán thuế năm chậm nhất là ngày thứ 90 (chín mươi), kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính.
Trường hợp doanh nghiệp có Quyết định chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động thì thời kê khai chậm nhất là ngày thứ 45 (bốn mươi lăm) [4, tr22]. Về nộp thuế Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách nhà nước. Thời hạn nộp thuế tài nguyên chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp người nộp thuế tính thuế hoặc thời hạn nộp thuế ghi trên thông báo, quyết định, văn bản của cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Trường hợp người nộp thuế mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh thì thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.