mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt — loại hình thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí trong giao dịch. Khi ngân hàng mở rộng phạm vi thanh toán, nâng cao chất lượng dịch vụ như hạ thấp chi phí giao dich, rút ngăn thời gian thực hiện thì tiện ích tạo ra cho khách hàng ngày càng nhiều. Điều này sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền ngày càng nhiều để có cơ hội sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, từ đó làm tăng thu nhập, mở rộng thị phần của NHTM. Hiện nay, các ngân hàng cung cấp nhiều hình thức thanh toán, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, các phương thức thanh toán quốc tế.
Khái quát về an toàn vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về an toàn vốn của ngân hàng thương mại NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính — tiền tệ, lĩnh vực rất nhạy cảm với sự biến đổi chu kỳ kinh tế, thay đôi trong chính sách tài chính, hop tác quốc gia. Do vậy, vấn đề quản trị rủi ro, đảm bảo an toàn vốn cho hệ thống NHTM luôn được các nhà quản lý, NHNN cũng như Chính phủ ở các quốc gia đặt lên quan tâm hàng đầu. Trên thế giới hiện nay, các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động nói chung và an toàn vốn nói riêng của NHTM đã được chuẩn hóa bằng các mô hình như mô hình Camel, Pearl.
Các mô hình này đều hệ thống hóa các khía cạnh đánh giá hoạt động của NHTM bao gồm đánh giá nguồn vốn, đánh giá chất lượng tài sản, khả năng quản lý, mức độ sinh lời. của một ngân hàng thông qua các bộ chỉ tiêu định tinh và định lượng [11]. 10 Trước đó, an toàn vốn đã được đánh giá thông qua mức độ đủ vốn đáp ứng cho quy mô ngân hàng và các hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua sự phân loại tài sản và tính toán chi tiết cho hệ số CAR (Capital Adequacy Ratio) của các hiệp ước vốn Basel [12]. Tại Việt Nam, an toàn vốn là một bộ phận trong an toàn hoạt động của NHTM.
An toàn vốn được hiểu là mức độ tự chủ về vốn, sự cân đối về kỳ hạn và quy mô vốn nợ và vốn vay, sự lành mạnh trong giải quyết nợ xấu và dự phòng [10]. Như vậy, có thé hiểu an toàn vốn của NHTM được biểu hiện qua trạng thái một ngân hàng có tiềm lực tài chính vững mạnh, khả năng tự chủ bổ sung vốn thường xuyên qua các năm; sự lành mạnh và minh bạch trong việc phân loại và cầu trúc tài sản, đặc biệt là các danh mục tài sản có rủi ro cao; sự én định trong cơ cấu sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Các yêu cầu này được tác giả cụ thé hóa qua những chỉ tiêu được đưa ra phân tích dưới đây. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng thương mại a.
Các chỉ tiêu định tính (1) Quy mô von và cơ cau von chủ sở hữu Khái niệm VCSH của NHTM có thê được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động. Về cơ bản, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, VCSH không phải hoàn trả, chủ ngân hàng có thé tăng, giảm (với sự đồng ý của cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của VCSH, hoặc quyết định các chính sách phân phối lợi nhuận có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn này. Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy VCSH làm làm cơ sở cho những năm đầu tiên và trong suốt quá trình hoạt động, ngân hàng không ngừng huy động vốn của các chủ thê khác trong nền kinh tế dé tài trợ cho các hoạt động của mình. Các thành phan của vốn chủ sở hữu trong ngân hàng thương mại Vốn chủ sở hữu ban đâu 11 Đây là nguồn vốn hình thành khi ngân hang được thành lập.
Tại Việt Nam, nguồn vốn này còn được gọi là vốn điều lệ và được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của t6 chức. Vốn điều lệ của ngân hàng TMCP bao gồm các loại: Vốn cô phan phổ thông: được tính bằng mệnh giá của tat cả các cô phiếu phổ thông (cỗ phiếu thường) đã phát hành, nghĩa là tổng số cô phần chưa thanh toán nhân với mệnh giá cô phần. Vốn cô phần ưu đãi: được tính băng mệnh giá của tất cả các cô phiếu ưu đãi đã phát hành. Cổ phiếu ưu đãi có thé là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, đảm bảo một tỉ lệ thu nhập cé định hoặc số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cô phiếu thường.
Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có thé được cấp bổ sung vốn, phát hành thêm cô phần, hưởng thặng dư vốn, dé lại những khỏan lợi nhuận tích lũy, các quỹ. Vốn được cấp bồ sung: Được bồ sung từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua phát hành cô phần dé mở rộng quy mô hoạt động hoặc tăng cường kha năng chống đỡ với rủi ro, ngân hàng có thể xin (hoặc được) cấp thêm vốn ngân sách (còn gọi là tái cấp vốn), hay phát hành thêm cổ phần. Những nguồn này đều tính vào cho VCSH của ngân hang. Thang dư vốn: Nguồn vốn này cũng có thé được hình thành ngay từ khi ngân hàng mới thành lập, hoặc phát hành cô phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), và tiếp tục có khả năng tăng lên khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới ở những lần tiếp theo, hay trong quá trình chuyền đổi cô phiếu ưu đãi thành cổ phiêu thường.
Đây là phan giá trị thị trường của các cô phiếu vượt quá mệnh giá mà các cổ đông sẵn sàng trả cho ngân hàng. Lợi nhuận không chia: Kết thúc mỗi kỳ kinh doanh của ngân hàng, lợi nhuận sau thuế, sau khi đã bù đắp các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phan. Một phan dé chi trả cổ tức cho các cô đông nắm giữ cô phiếu của ngân hàng, phan còn lại được bé sung vào nguồn VCSH dưới tên gọi là lợi nhuận giữ lại hay lợi nhuận không chia. Thực chat, đây vẫn là vốn của các cô đông, chủ sở hữu ngân 12 hàng, nhưng đã được vốn hóa để mở rộng quy mô cho VCSH, tái đầu tư và trích lập các quỹ.
Các quỹ/ khoản dự trữ: Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng hoặc do tuân theo quy định của nhà nước, hoặc do tự nhận thấy cần thiết dé đảm bảo hoạt động va đề phòng rủi ro, đều tiến hành trích lập các quỹ dự trữ. Các khoản quỹ/dự trữ trong NHTM đó là: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Được trích lập hàng năm theo tỷ lệ phần trăm trên tổng lợi nhuận sau thuế, với một mức tối đa do nhà nước quy định. - Quỹ bảo toàn vốn: Tính theo tỉ lệ lạm phát, nhằm bảo toàn giá trị của VCSH trong môi trường lạm phát của nền kinh tế. - Quy dự phòng bù đắp rủi ro: Quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế, nhằm bù dap những thiệt hại khi xảy ra tình huống bat thường.
Do có tính chất như một khoản chi phí, nên một số ngân hàng không hạch toán khoản này vào VCSH mà vào các khoản nợ. Nếu được liệt kê vào VCSH, khi ton thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, vốn chủ của ngân hàng sẽ gia tăng, và ngược lại. Như vậy, quy mô của quỹ này phụ thuộc vào tôn thất ròng, thu nhập của ngân hàng, và tỉ lệ trích lập quỹ. Vai trò của vốn chủ sở hữu đối với van dé an toàn vẫn của ngân hàng thương mại VCSH có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và mức độ an toàn vốn nói riêng.
VCSH thực hiện một số chức năng không thé thay thé đó là: cung cấp nguồn lực ban đầu cho ngân hàng có thé duy trì hoạt động khi ngân hàng mới thành lập, là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, phòng ngừa rủi ro kinh doanh cho NHTM. Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban dau của NHTM Điều kiện bắt buộc dé ngân hàng có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định. Mỗi ngân hàng mới thành lập đều cần vốn ban đầu đề xây dựng, mua sắm hoặc thuê cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên.phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hang như cho vay hoặc mua chứng khoán. Tạo niêm tin cho người gửi tiên và thu hút tiên gửi 13 Trong trường hợp những điều kiện khác tương tự nhau, những ngân hàng có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn ngân hàng có vốn nhỏ hơn.
Tiềm lực tài chính của ngân hàng mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở công chúng, và quy mô VCSH chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó. Trong điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay, khách hàng có thé dé dang tiếp cận các bảng cân đối kế toán, các thông số tài chính dé so sánh các ngân hàng trước khi đưa ra quyết định ký thác vốn của mình cho họ; vì thế, quy mô VCSH của các NHTM càng cần được chú trọng hơn. Cung cấp các nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển Các NHTM hiện nay luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ ngân hàng, nâng cao năng suất lao động. Mặt khác, khi phát triển, ngân hàng cũng cần bổ sung vốn để thúc day tăng trưởng, mở thêm chi nhánh hoặc quay giao dịch, văn phòng đại diện, v.VCSH được bồ sung và tăng về quy mô sé tài trợ cho các hoạt động nay dé theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng.
Tam đệm chong đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiên/ký thác và các quỹ bảo hiểm tiễn gửi Hoạt động kinh doanh của NHTM thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Thực tế, NHTM có nhiều biện pháp dé phòng chống rủi ro, bảo vệ tinh trạng tài chính của mình như: nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm tiền gửi, v.