Chương 1: Tổng quan các cơ sở lý luận của đồ án. Chương 2: Trình bày tổng quan về pin quang điện, lý thuyết bộ biến đổi DC-DC. Chương 3: Giải thuật dò điểm công suất cực đại PSO trong điều kiện có bóng che. Chương 4: Trình bày kết quả mô phỏng và thực nghiệm.
Chương 5: Kết luận và phương hướng phát triển đề tài. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Giới thiệu pin mặt trời Pin mặt trời (Solar panel) hay pin quang điện là một nguồn điện hoạt động dựa trên nguyên lý hiệu ứng quang điện trong chất bán dẫn. Pin mặt trời bao gồm nhiều tế bào quang điện - phần tử bán dẫn có chứa nhiều cảm biến ánh sáng là diot quang, thực hiện chức năng chuyển đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện năng.
Hiệu điện thế, cường độ dòng điện hoặc điện trở của pin mặt trời phụ thuộc bởi lượng ánh sáng chiếu vào chúng. Các tế bào quang điện được ghép thành khối để tạo ra một tấm pin mặt trời, thông thường một tấm pin mặt trời có 60 hoặc 72 tế bào quang điện. Cấu tạo Loại pin mặt trời thông dụng nhất hiện nay là loại sử dụng Silic tinh thể. Tinh thể Silic tinh khiết là chất bán dẫn điện rất kém vì các điện tử bị giam giữ bởi liên kết mạng, không có điện tử tự do.
Khi bị ảnh sáng hay nhiệt độ kích thích, các điện tử bị bứt ra khỏi liên kết, hay là các điện tử tích điện âm nhảy tử vùng hoá trị lên vùng dẫn và để lại một lỗ trống tích điện thương trong vùng hoá trị. Lúc này chất bán dẫn mới dẫn điện.1: Cấu tạo pin mặt trời 4 Một Pin mặt trời cơ bản được cấu tạo từ năm lớp: - Front metal contacts: lớp tiếp xúc trên bằng kim loại (điện cực trên) - Antireflection coating: lớp phủ chất không phản xạ - N-type crystal: bán dẫn loại n - P-type crystal: bán dẫn loại p - Rear metal contal: lớp tiếp xúc dưới bằng kim loại (điện cực dưới) 2. Phân loại Hiện nay, vật liệu chủ yếu làm pin năng lượng mặt trời (và cho các thiết bị bán dẫn) là các Silic tinh thể. Pin năng lượng mặt trời làm từ tinh thể Silic chia ra thành 3 loại: pin mặt trời đơn tinh thể, pin mặt trời đa tinh thể, pin mặt trời dạng phim mỏng.
Pin năng lượng mặt trời mono đơn tinh thể (Monocrystalline) Các tế bào quang điện của tấm pin mặt trời Mono được làm bằng silicon đơn tinh thể với độ tinh khiết cao. Các tế bào quang điện của loại pin này được cấu tạo từ các phôi silicon hình trụ để giúp tăng cường được tối đa hiệu suất, nhà sản xuất đã vạt góc mặt của phôi silicon. Bề ngoài của tấm pin mono có màu đen sẫm đồng nhất. Cùng với đó là các tế bào quang điện hình vuông được vạt góc xếp liền nhau tạo ra khoảng trống hình thoi.
Pin mono thường có hiệu suất chuyển đổi và công suất cao nhất trong 3 loại pin. Hầu hết các tấm pin mặt trời mono thường đạt hiệu suất chuyển đổi trên dưới 20%.2: Pin năng lượng mặt trời mono đơn tinh thể (Monocrystalline) 5 2. Pin năng lượng mặt trời poly đa tinh thể(polycrystalline) Các tấm pin mặt trời Poly đều được tạo nên từ silicon đa tinh thể như polysilicon (p- Si) và silicon đa tinh thể (me-Si). Nguyên liệu silicon này bị tan chảy và đổ vào khuôn hình vuông, để nguội và cất thành những tấm wafer vuông hoàn hảo.
Ưu điểm của pin. mặt trời Poly là quá trình sản xuất đơn giản và ít tốn kém nên giá thành thấp hơn so với pin mono. Ngoài ra tấm có mức độ giãn nở và chịu nhiệt cao. Tuy nhiên hiệu suất làm việc của các tấm pin mặt trời poly thường có hiệu suất chuyển đổi từ 15 đến 19% thấp hơn loại pin mono trong cùng một điều kiện.
Bên cạnh đó tuổi thọ của loại pin này không cao bằng pin mono.3: Pin năng lượng mặt trời poly đa tinh thể (polycrystalline) 2. Pin năng lượng mặt trời dạng phim mỏng Pin mặt trời dạng phim mỏng là loại pin được tạo từ những miếng phim rất mỏng từ chất liệu Silic nóng chảy. Loại pin này có cấu trúc đa tinh thể và cho hiệu suất thấp nhất khi so sánh với hai dòng pin Mono và Poly. Chúng thường có hiệu suất chuyển đổi gần hơn 11%.
Bởi bỏ qua thao tác cắt thỏi Silicon nên pin năng lượng mặt trời dạng phim mỏng được xem là có giá cả mềm nhất so với hai loại pin trên.4: Pin năng lượng mặt trời dạng phim mỏng 6 2. Nguyên lí hoạt động Hình 2.5: Nguyên lí hoạt động của pin mặt trời Nguyên lí hoạt động của pin quang điện dựa tvào hiện tượng quang điện trên lớp tiếp xúc p-n. Ánh sáng mặt trời như một dòng chảy của các hạt mang năng lượng được gọi là photon. Khi ánh sáng chiếu đến tế bào quang điện, các hạt photon ánh sáng có thể dễ dàng đi vào trong lớp chuyển tiếp p-n thông qua lớp lớp p.
Năng lượng ánh sáng ở dạng hạt photon có thể cung cấp đủ năng lượng cho các electron tại vùng nghèo tách ra khỏi liên kết với lỗ trống để tạo ra một số cặp electron-lỗ trống. Lúc này vùng nghèo mất trạng thái cân bằng nên lớp ngăn cách bị phá vỡ, các electron vùng n có thể di chuyên xuyên qua lớp chuyển tiếp p-n đến lớp p. Khi kết nối một dây dẫn ở hai đầu lớp p và lớp n qua một phụ tải, sẽ có một dòng electron di chuyển từ lớp n xuyên qua vùng nghèo đến lớp p và qua phụ tải về lại lớp n. Dòng dịch chuyển của electron tạo thành một dòng điện kín có chiều ngược chiều electron (chiều dòng điện từ lớp n về lại lớp p).
Đặc tính của tế bào quang điện 2. Mô hình toán của một tế bào quang điện Để thuận tiện trong việc tính toán, thiết kế, một mạch điện tương đương được đưa ra để thay thế pin mặt trời. Nó bao gồm một nguồn dòng (IPH), một diode, một điện trở nối tiếp (Rs) và một điện trở shunt (Rsh).6: Mô hình toán của tế bào quang điện Sử dụng định luật Kirchhoff cho nguồn dòng (IPH), dòng điện qua diode (ID), dòng điện qua điện trở shunt (Ish), dòng điện đến qua tải (I) được biểu diễn sau: IPH − ID − ISH − I = 0 (2.2) R SH Trong đó: IPH: dòng quang điện (A) IS: dòng bão hòa (A) q: điện tích của electron, q = 1,6 × 10−19 C k: hằng số Boltzmann’s, k = 1,38 × 10−23 J/K TC: nhiệt độ vận hành của pin (K) A: hệ số lý tưởng phụ thuộc vào công nghệ chế tạo pin, ví dụ công nghệ Si-mono A=1.2, Si-Poly A = 1 3… 8 Dòng quang điện IPH phụ thuộc trực tiếp vào bức xạ mặt trời và nhiệt độ của pin: IPH = [Isc + K1 (Tc − TRef )] (2.3) Trong đó: ISC: dòng ngắn mạch tại nhiệt độ tiêu chuẩn 25C (A) và bức xạ 1kW/m2 K1: hệ số dòng điện phụ thuộc vào nhiệt độ (A/C) Tc: Nhiệt độ vận hành của pin mặt trời (K) TRef: Nhiệt độ tiêu chuẩn của pin mặt trời (K) λ: Bức xạ mặt trời (kW/m2) Dòng bão hòa IS là dòng các hạt tải điện không cơ bản đƣợc tạo ra do kích thích nhiệt. Khi nhiệt độ của pin mặt trời tăng dòng bão hòa cũng tăng theo hàm mũ TC 3 [qE G ( 1 − 1 )] (2.4) IS = IRS ( ) e kA Tref TC Tref IRS: Dòng điện ngƣợc bão hòa tại nhiệt độ tiêu chuẩn (A) EG: Năng lượng lỗ trống của chất bán dẫn Đối với pin mặt trời lý tưởng, điện trở dòng rò Rsh = ∞, Rs = 0 Khi đó mạch điện tương đương của pin quang điện trở thành: Hình 2.7: Sơ đồ mạch điện lý tưởng của pin quang điện Khi đấy dòng điện qua tải I được đơn giản hóa như sau: q (V+ IR ) (2.5) I = IPH − IS (ekTCA − 1) 9 Thông thường, công suất của tế bào quang điện khoảng 2W và điện áp khoảng 0.
Vì thế, phải ghép nối các tế bào quang điện với nhau theo dạng nối tiếp-song song để sinh ra lượng công suất và điện áp đủ lớn đáp ứng được từng nhu cầu sử dụng. Mạch điện tương đương của module pin quang điện gồm Ns tế bào được mắc nối tiếp và Np song song song. Xem xét module quang điện với Ns tế bào được mắc nối tiếp và Np song song: Hình 2.8: Sơ đồ mạch tương đương của pin mặt trời mắc nối tiếp, song song Phương trình đặc trưng của module pin: qV (2.6) I = IP IPH − NP IS [exp ( − 1)] NS kTC A 2. Đặc tuyến của pin quang điện Đặc tính làm việc của pin mặt trời thể hiện qua hai thông số là điện áp hở mạch lớn nhất (VOC) và dòng điện ngắn mạch (ISC) VOC là hiệu điện thế được đo khi mạch ngoài của pin mặt trời hở, lúc đó I = 0.9: Mô hình PV lý tưởng khi hở mạch Dòng ngắn mạch ISC là dòng điện trong mạch của pin mặt trời khi làm ngắn mạch ngoài (chập các cực ra của pin) Lúc đó hiệu điện thế mạch ngoài của pin bằng V = 0.10: Mô hình PV lý tưởng khi ngắn mạch Công suất của pin được tính theo công thức: P =UI.
Tại điểm làm việc U = VOC; I = 0 và U = 0; I = ISC, Công suất làm việc của pin có giá trị bằng 0. Tại bức xạ mặt trời nhất định, tế bào quang điện cho ra giá trị các đại lượng điện áp V (V), dòng điện I (A) và công suất P (W) tương ứng. Các giá trị của V, I và P giúp xác định các đặc tuyển của một tế bào quang điện đó là mối tương quan giữa I-V (điện áp- dòng điện) và P-V (công suất-điện áp). Ở đây, Isc là dòng điện ngắn mạch, VOC là điện áp hở mạch, MPP là điểm có công suất cực đại, IMP vàVMP là dòng điện và điện áp tương ứng tại MPP.11: Đặc tuyến I-V ở điều kiện tiêu chuẩn Hiệu suất của tế bào quang điện phụ thuộc vào các yếu tố như vật liệu sản xuất, nhiệt độ môi trường, cường độ bức xạ mặt trời, góc nghiêng đối với mặt trời và sự khác nhau của bức xạ giữa các tế bào.
Các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tế bào quang điện là: độ bức xạ và nhiệt độ, nơi mà bức xạ càng lớn thì giá trị đầu ra càng lớn (I và V), nhưng mặt khác, nhiệt độ của tế bào quang điện càng cao, điện áp đầu ra càng thấp. Thời 11 tiết mùa đông và độ cao cũng có thể dẫn đến bức xạ thấp và như bất kỳ thiết bị điện tử nào khác, pin quang hoạt động tốt hơn khi được làm mát.