Tổng hợp nhận định văn học về tác phẩm Việt Bắc và Tây Tiến lớp 12

Tổng hợp các đề nghị luận văn học về bài thơ Sóng Ngữ văn 12 kèm dàn ý chi tiết. Tài liệu hữu ích giúp học sinh ôn thi tốt nghiệp THPT hiệu quả.

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu tham khảo
68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề nghị luận văn học bài Sóng Ngữ văn 12

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là tác phẩm trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 12. Tác phẩm xuất hiện thường xuyên trong các kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia. Hệ thống đề nghị luận về bài thơ phản ánh đầy đủ chiều sâu giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật. Đề thi thường yêu cầu phân tích vẻ đẹp trữ tình, khát vọng tình yêu và tính cách người phụ nữ. Thể thơ năm chữ tạo nhịp điệu dạt dào như từng đợt sóng biển. Hình tượng sóng và nhân vật trữ tình em có sự hòa nhập sâu sắc. Cấu trúc đề thi hiện đại thường tích hợp hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất yêu cầu cảm nhận đoạn thơ hoặc hình tượng cụ thể. Phần thứ hai mở rộng bằng câu hỏi phụ mang tính phân hóa. Câu hỏi phụ thường kiểm tra hiểu biết về phong cách tác giả, đặc trưng thể loại hoặc thông điệp nhân sinh. Nắm vững cấu trúc đề giúp học sinh định hình hướng làm bài chính xác. Việc ôn tập bài thơ Sóng đòi hỏi tư duy mạch lạc và vốn dẫn chứng phong phú. Nền tảng kiến thức vững chắc sẽ bảo đảm điểm số tối ưu trong kỳ thi.

1.1. Vị trí tác phẩm Sóng trong đề thi Ngữ văn 12

Sóng giữ vị trí cốt lõi trong phần thơ ca hiện đại Việt Nam giai đoạn chống Mỹ. Tác phẩm mang đến tiếng nói tình yêu chân thành, vừa truyền thống vừa hiện đại. Các đề thi tốt nghiệp thường xuyên khai thác thi phẩm này để đánh giá năng lực cảm thụ văn học. Bài thơ đại diện cho phong cách thơ nữ tính, giàu cảm xúc trắc ẩn của Xuân Quỳnh. Tác phẩm đặt ra những câu hỏi muôn thuở về tình yêu, thời gian và sự vĩnh cửu. Đề thi khai thác bài thơ thường có tính bao quát cao. Học sinh cần hiểu rõ vị trí văn học sử để đặt tác phẩm vào đúng tiến trình văn học dân tộc.

1.2. Mục tiêu đánh giá của đề nghị luận bài Sóng

Đề thi nghị luận văn học nhằm kiểm tra kiến thức lý luận và năng lực diễn đạt. Người học phải làm rõ cách xây dựng hình tượng nghệ thuật độc đáo. Đề bài yêu cầu phân tích mối quan hệ tương giao giữa sóng và em. Khả năng phát hiện các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, điệp từ, điệp cấu trúc là tiêu chí chấm điểm then chốt. Người làm bài cần thể hiện năng lực tổng hợp kiến thức thông qua câu hỏi phụ. Câu hỏi phụ yêu cầu nhận xét về quan niệm tình yêu hoặc vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ. Mục tiêu cuối cùng là đánh giá chiều sâu tư duy và phong cách diễn đạt văn chương.

II. Phân tích các đề nghị luận văn học bài Sóng Ngữ văn 12 trọng tâm

Đề nghị luận văn học về bài Sóng được phân loại thành ba nhóm chủ đạo. Nhóm thứ nhất tập trung cảm nhận đoạn thơ cụ thể kết hợp nhận xét phong cách thơ. Khổ thơ thứ năm và sáu thường xuất hiện để làm nổi bật nỗi nhớ cùng lòng thủy chung. Khổ thơ thứ ba và bốn được chọn để khai thác nguồn gốc bí ẩn của tình yêu. Nhóm đề thứ hai đòi hỏi so sánh văn học giữa hai tác phẩm. Dạng đề này thường đặt Sóng cạnh Việt Bắc của Tố Hữu để so sánh sắc thái nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong Việt Bắc gắn liền với nghĩa tình cách mạng và đạo lý dân tộc. Nỗi nhớ trong Sóng mang tính riêng tư, mãnh liệt và tràn đầy trực cảm nữ tính. Nhóm đề thứ ba bàn về một nhận định lý luận văn học. Dạng đề này kiểm tra năng lực chứng minh quan điểm thông qua văn bản thơ. Khó khăn lớn nhất của người viết là thiếu kỹ năng phân tích thi pháp. Nhiều bài viết sa vào kể chuyện hoặc diễn xuôi bài thơ. Nhận diện đúng dạng đề là bước quyết định hướng triển khai luận điểm.

2.1. Dạng đề phân tích cảm nhận đoạn thơ có câu hỏi phụ

Dạng đề cảm nhận đoạn thơ chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất. Thí sinh phải nắm chắc kỹ thuật phân tích cấu trúc thơ năm chữ. Các câu thơ ngắn cần được mổ xẻ về nhịp điệu, ngắt nhịp và thanh điệu. Hình tượng sóng luôn song hành cùng khát vọng tình yêu của em. Phần câu hỏi phụ thường chiếm từ 0.5 đến 1.0 điểm trong thang điểm bài thi. Câu hỏi phụ yêu cầu nhận xét nét nữ tính hoặc quan niệm nhân sinh sâu sắc. Việc phân bổ thời gian hợp lý cho hai phần là yếu tố then chốt. Người viết phải tránh tình trạng tập trung quá nhiều vào đoạn trích mà bỏ quên câu hỏi nâng cao.

2.2. Dạng đề so sánh văn học giữa Sóng và các tác phẩm khác

Đề so sánh văn học đòi hỏi tư duy đối sánh và phân loại sâu rộng. Đề bài thường yêu cầu so sánh nỗi nhớ trong Sóng và Việt Bắc. Hai tác giả thuộc hai phong cách và hoàn cảnh sáng tác khác nhau. Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát truyền thống để tái hiện nghĩa tình cách mạng. Xuân Quỳnh chọn thể ngũ ngôn hiện đại để bày tỏ tình yêu lứa đôi nồng cháy. Người viết cần chỉ rõ điểm tương đồng về tình cảm thủy chung son sắt. Đồng thời, bài làm phải làm sáng tỏ nét độc đáo riêng biệt của từng cây bút. Khâu lý giải nguyên nhân khác biệt cần căn cứ vào phong cách cá nhân và bối cảnh thời đại.

III. Phương pháp làm đề nghị luận văn học bài Sóng Ngữ văn 12 điểm cao

Để đạt điểm tối đa khi làm bài nghị luận văn học về Sóng, người viết cần xây dựng quy trình bốn bước chuẩn mực. Bước đầu tiên là phân tích đề bài để xác định đúng phạm vi dẫn chứng và yêu cầu phụ. Bước thứ hai là lập dàn ý chi tiết theo từng luận điểm rõ ràng. Mỗi đoạn thân bài cần gắn liền với một tầng ý nghĩa của hình tượng sóng. Bước thứ ba là triển khai bài viết kết hợp nhuần nhuyễn giữa thao tác phân tích và tổng hợp. Khi phân tích, người viết chú trọng khai thác tín hiệu nghệ thuật như nhịp điệu thơ ngũ ngôn, nghệ thuật đối lập tương phản và ẩn dụ biểu tượng. Cần tránh lỗi diễn xuôi thơ thành văn xuôi thông thường. Bước cuối cùng là giải quyết trọn vẹn câu hỏi nâng cao bằng luận điểm súc tích. Việc đưa lý luận văn học vào bài viết cần tự nhiên và gắn liền với ngữ cảnh. Luyện tập lập dàn ý theo ma trận đề thi sẽ giúp nâng cao tốc độ viết và tính chuẩn xác.

3.1. Kỹ năng khai thác tín hiệu nghệ thuật và thi pháp thơ

Khai thác thi pháp thơ là chìa khóa mở rộng điểm số bài làm. Người viết cần phân tích cách ngắt nhịp linh hoạt 2/3 và 3/2 trong từng khổ thơ. Thể ngũ ngôn giàu nhạc tính diễn tả chân thực những đợt sóng biển dâng trào. Ẩn dụ sóng đôi giữa sóng và em làm nổi bật tâm trạng người con gái đang yêu. Những cặp từ đối lập như dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ biểu đạt sự biến thiên của cảm xúc. Khai thác sâu các liên từ nối giúp người viết làm sáng tỏ logic tâm trạng nhân vật trữ tình. Bài văn đạt điểm cao khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa bình luận cảm xúc và phân tích kỹ thuật câu chữ.

3.2. Chiến thuật xử lý câu hỏi phụ và liên hệ lý luận

Xử lý câu hỏi phụ yêu cầu cách tiếp cận ngắn gọn và trực diện. Người viết cần dành khoảng một đến hai đoạn văn riêng biệt ở phần kết thân bài. Nội dung giải quyết câu hỏi phụ phải bám sát kết quả phân tích đoạn trích trước đó. Việc liên hệ quan niệm nghệ thuật của tác giả giúp tạo chiều sâu học thuật. Thí sinh có thể dẫn nhận định của các nhà phê bình uy tín để củng cố luận điểm. Lý luận về đặc trưng thơ trữ tình cần được diễn đạt khúc chiết, tránh lan man. Cách viết tự nhiên và lập luận chặt chẽ sẽ thuyết phục hoàn toàn người chấm thi.

IV. Ứng dụng xử lý đề nghị luận văn học bài Sóng Ngữ văn 12 hiệu quả

Vận dụng thuần thục kiến thức bài thơ Sóng giúp tối ưu hóa điểm số môn Ngữ văn 12. Học sinh cần xây dựng ngân hàng luận điểm và dẫn chứng tiêu biểu cho từng khổ thơ. Thói quen lập dàn ý nhanh trong 5 phút đầu tiên giúp bài làm có cấu trúc vững chắc. Mở bài cần dẫn dắt ấn tượng, nêu đúng vấn đề nghị luận và trích dẫn văn bản chính xác. Thân bài sắp xếp các luận cứ theo trình tự từ cảm nhận trực tiếp đến khái quát tư tưởng. Kết bài khẳng định lại sức sống bất diệt của thi phẩm và tài năng của nhà thơ Xuân Quỳnh. Kỹ năng so sánh mở rộng tạo điểm nhấn khác biệt cho bài viết. Luyện tập đều đặn với các dạng đề mẫu sẽ hình thành phản xạ tư duy nhanh nhạy. Khả năng làm chủ bài thơ Sóng là nền tảng quan trọng giúp chinh phục kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia.

4.1. Mẫu dàn ý chi tiết phân tích đoạn thơ trong bài Sóng

Một dàn ý chuẩn bắt đầu bằng phần mở bài giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng. Phần thân bài phân tích nội dung chi tiết theo từng câu thơ và hình ảnh trung tâm. Người viết làm rõ sự biến đổi cảm xúc của nhân vật em qua hình tượng sóng. Tiếp theo là phần đánh giá giá trị nghệ thuật về nhịp điệu, thể thơ và ngôn từ. Luận điểm giải quyết câu hỏi phụ được đặt ở cuối thân bài để nâng cao giá trị bài viết. Cuối cùng, kết bài tổng kết toàn bộ giá trị tư tưởng và phong cách tác giả. Dàn ý chuẩn xác giúp bài viết mạch lạc và không bỏ sót ý.

4.2. Lưu ý quan trọng tránh mất điểm khi làm bài thi

Thí sinh cần tránh lỗi diễn xuôi bài thơ thành các câu văn thông thường. Việc trích dẫn thơ thiếu chính xác hoặc sai lệch từ ngữ sẽ bị trừ điểm nặng. Khi phân tích, phải luôn bám sát đặc trưng thể loại thơ trữ tình để khai thác nhạc điệu. Không nên viết quá dài dòng ở phần mở bài làm mất thời gian làm thân bài. Câu hỏi phụ cần được trả lời thành một mục riêng biệt, có luận điểm rõ ràng. Phân chia thời lượng làm bài hợp lý bảo đảm hoàn thành đầy đủ các phần. Chữ viết rõ ràng và trình bày sạch đẹp cũng là điểm cộng quan trọng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu đoạn thơ, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ được gửi gắm qua sự thủy chung, son sắt. Trong tình yêu, người phụ nữ luôn mong có được một tình yêu lớn lao, mãnh liệt bởi vậy, họ luôn giữ cho mình tấm lòng thủy chung và sự thủy chung ấy chính là nỗi nhơ da diết dành cho người mình yêu: “Con sóng dưới lòng sông Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Dường như nỗi nhớ của nhân vật em đã lam tỏa khắp không gian “dưới lòng sâu”, trên mặt nước, bao trùm cả thời gian “ngày đêm” và nỗi nhớ ấy càng trở nên vô tận hơn khi đặt trong hình tượng sóng. Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, ta đã từng bắt gặp nỗi nhớ đầy đáng yêu của Xuân Diệu: “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, nhớ lắm em ơi” Hay như Nguyễn Bính, ông cũng đã từng bày tỏ nỗi nhớ phảng phất nét mộc mạc đúng chất của một nhà thơ chân quê: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người”. Nhưng nhớ tới mức “cả trong mơ còn thức” thì có lẽ chỉ Xuân Quỳnh mới có.

Nhà thơ đã rất đúng khi cho rằng trên đời này không gì có thể sánh bằng tình yêu kể từ khi được yêu, được sống trong hạnh phúc, Xuân Quỳnh luôn đặt tình yêu lên ngai vàng của trái tim. Tình yêu và nỗi nhớ của bà không chỉ tồn tại trong vô thức kể cả trong những giấc mơ thì tình yêu của em vẫn luôn hướng về anh: “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”. Đoạn thơ đã sử dụng các cặp từ đối lập “xuôi- ngược”, “Bắc- Nam”. Đặc biệt, sự kết hợp cặp từ đối lập với hai đối cực Bắc, Nam đã diễn tả sự đối lập ở mức cao độ.

Người ta thường nói “Xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam” nhưng ở đây lại hoàn toàn ngược lại. Từ đó, Xuân Quỳnh muốn khẳng định dù đất trời có thay đổi, vũ trụ có biến thiên thì người phụ nữ vẫn không bao giờ thay đổi. Ở đoạn thơ này, Xuân Quỳnh còn sáng tạo ra một phương mới, đó chính là phương anh. Phải chăng, đây chính là phương tâm trạng, phương tình cảm của người phụ nữ.

Đó chính là nơi hpoj luôn hướng về để tìm được sự bình yên sau những giông tố của cuộc đời. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh còn là sự vượt qua những khó khăn, thử thách trong tình yêu. Tình yêu chính là sức mạnh để họ bước đến hạnh phúc: “Ở ngoài kia đại dương Ngàn trăm con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dẫu muôn vời cách trở”. Sóng ngàn năm vẫn vậy, dẫu có chuyện gì xảy ra đích đến của nó vẫn là bờ, muôn ngàn năm sau vẫn thế.

Xuân Quỳnh đã phát hiện ra quy luật của sóng rất giống với quy luật của tình yêu. Tình yêu từng khi có sự ồn ào nhưng ẩn sâu trong đó vẫn luôn hướng tới sự nhẹ nhàng, tình yêu nhiều khi có những dữ dội nhưng đích đến cuối cùng vẫn là sự ngọt ngào, êm dịu. Và dù cho có chuyện gì xảy ra, em và anh cũng nhất định vượt qua để đến với bến bờ hạnh phúc. Cũng từ hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã cho người đọc thấy dduwwocj vẻ đẹp mới mẻ trong tâm hồn của người phụ nữ đó chính là sự chủ động trong tình yêu.

Sự chủ động của người phụ nữ cũng giống như những con sóng vượt đại dương để vào bờ: “Con nào chẳng tới bờ Dẫu muôn vời cách trở”. Nếu trong ca dao, dân ca, trong cuộc sống cũng như tình yêu, người phụ nữ luôn ở thế bị động: “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” Ngay cả Hồ Xuân Hương, dù có táo bạo đến đâu nhưng cũng phải lấy chữ duyên, chữ phận làm duyên cớ để nói về chuyện tình cảm: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Thì Xuân Quỳnh lại hết sưc chủ động trong chuyện tình cảm của mình: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Qua hình hượng sóng cùng hình tượng nhân vật “em”, Xuân Quỳnh đã cho người đọc đi sâu khám phá vẻ đẹp tâm hồn của những người phụ nữ, đó chính là nỗi nhớ của sự thủy chung, là niềm tin để vượt qua trắc trở, cùng sự chủ động đến với tình yêu của bản thân. Đó chính là những nét đẹp đáng trân trọng và nâng niu.

Thể thơ năm chữ, cách ngắt, nhịp uyển chuyển, từ ngữ giàu sức biểu cảm, giàu sức gợi kết hượp với các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Đoạn thơ đã khép lại nhưng trong tâm trí ta vẫn như thấy hình ảnh của một Xuân Quỳnh đang khao khát, rạo rực trong tình yêu với một trái tim yêu đương da diết. Dường như sau từng câu, từng chữ là những suy ngẫm, tiếng thở của Xuân Quỳnh về tình yêu. Có lẽ đó chính là lí do vì sao dù ra đời đã lâu nhưng “Sóng” vẫn không bị lớp bụi thời gian vùi lấp và còn giá trị mãi với thời gian So sánh hai đoạn thơ trong bài sóng Xuân Quỳnh và Đất nước Nguyễn Khoa Điềm Đề bài :Cảm nhận về hai đoạn thơ sau: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hẹn hò Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” (Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm) “Con sóng dưới lòng sâu Con song trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” ( Sóng – Xuân Quỳnh) Gợi ý: Mở bài: Đề tài tình yêu là một trong những đề tài làm tốn nhiều giấy mực nhất đối với các thi nhân.Cuộc sống càng muôn màu thì tình yêu càng muôn vẻ, có bao nhiêu người yêu nhau thì có bấy nhiêu cách cảm nhận về tình yêu.Bằng sự cảm nhận của riêng mình, mỗi thi sĩ lại khoác cho tình yêu ấy một vẻ đẹp khác nhau.

Điều đó đã được Nguyễn Khoa Điềm và Xuân Quỳnh thể hiện rất rõ trong hai đoạn thơ trích trong hai tác phẩm “Đất Nước” được sáng tác 1971 in trong trường ca “Mặt đường khát vọng” và “Sóng” sáng tác năm 1967 in trong tập “Hoa dọc chiến hào” 1968: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” (Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm) Và: “Con sóng dưới lòng sâu Con song trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” ( Sóng – Xuân Quỳnh) Khi chúng ta đi đối chiếu so sánh hai đoạn thơ sẽ thấy được điểm tương đồng và khác biệt một cách độc đáo của hai đoạn thơ, hai phong cách, hai thi sĩ này. Thân bài : Luận điểm 1 : Giới thiệu vài nét về hai tác giả, hai tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác và vị trí hai đoạn thơ cần phân tích Sóng- Xuân Quỳnh .– Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu, hạnh phúc đời thường bình dị. – Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc. Tác phẩm + Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.

+ Đoạn thơ thứ 5 miêu tả nỗi nhớ của nhân vật trữ tình ” Em” Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm Thơ Nguyễn Khoa Điềm cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng, ông cất lên tiếng nói của một người trí thức thiết tha gắn bó với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước. Đoạn trích Đất Nước là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm này được hoàn thành năm 1971, thể hiện sự thức tỉnh của thế lệ trẻ miền Nam về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước. Đoạn thơ trên thuộc phần đầu chương V Luận điểm 2 : Điểm giống nhau -Trước hết điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ chính là viết về tình yêu đôi lứa trong nỗi nhớ, niềm thương.

+Đúng vậy, tình yêu thì luôn gắn liền với nỗi nhớ, có ai yêu mà chưa bao giờ nếm mùi của cảm giác chờ mong, khắc khoải. Tất cả biểu hiện của nỗi nhớ trong tình yêu rốt cuộc cuối cùng chỉ là khát khao hướng tới người mình yêu, mong muốn được ở gần người trong trái tim mình. +Trong ca dao xưa chẳng phải người xưa họ cũng đã từng diễn tả cái nỗi nhớ trong tình yêu rồi hay sao: “ Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than” Hay “ Đêm nằm lưng chẳng tới giường Mong cho mau sáng ra đường gặp anh” + Âý thế nhưng, trong đoạn thơ của NKĐ để diễn tả nối nhớ trong tình yêu, tác giả đã mượn hình ảnh của chiếc khăn – tín vật giao ước kết đôi mà biểu hiện nỗi nhớ: “ ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Tín vật tình yêu chính là điểm giao kết cho đôi bạn tình. Từ xừa đến nay, những người yêu nhau như càng muốn thể hiện sự khăng khít gắn bó mặn nồng, thường lấy một tín vật nào đó mà kết duyên, giao ước.Họ coi đó như là “sợi chỉ hồng” của ông lão bà tơ se duyên kết mối.

Hình ảnh chiếc khăn được nhắc đến trong đoạn thơ là một hình ảnh quen thuộc trong ca dao xưa: “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt…” Đó là chiếc khăn tín nghĩa, biểu trưng cho tình cảm thật đẹp, thật trong sáng trong nỗi nhớ yêu thương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ