phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bản luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Khái quát về dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Chƣơng 2: Truyền thuyết dân gian và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc Chƣơng 3: Vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc. Ngoài ra, bản luận văn còn có phần phụ lục. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 1. Nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành Dân tộc Tày là một cộng đồng tộc ngƣời thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.
“Thời Chu Tần, các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày – Thái và nhiều dân tộc khác nữa cƣ trú ở miền nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam đƣợc gọi chung là Bách Việt; thời Tần có tên gọi là Tây Âu – Lạc Việt; thời Lƣỡng Hán có tên gọi là Ô Hử; thời Nam Bắc triều có tên gọi là Lý, Lạo, Lang; thời Tống xuất hiện các tên gọi Thổ, Cháng và thời Minh, tên Cháng trở nên phổ biến” [14; tr 22]. Theo tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình Then Tày [46], Bách Việt là tổ tiên của các tộc ngƣời thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau thuộc cả hai nhóm văn hóa ngôn ngữ là Nam Á và Nam Đảo. Cƣ dân Bách Việt đƣợc hình thành từ thời Hạ Thƣơng, cƣ trú chủ yếu ở phía nam sông Trƣờng Giang. Thời Xuân Thu chiến quốc, các cƣ dân Việt đã lập nên hai nƣớc Việt, Ngô.
Năm 473 trƣớc công nguyên, nƣớcViệt tiêu diệt nƣớc Ngô. Năm 323 trƣớc công nguyên, nƣớc Sở tiêu diệt nƣớcViệt. Dƣới thời Tần Hán, Việt tộc phân hóa rồi hợp lại, gọi là Bách Việt, gồm: Đông Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam, Điền Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên… Khoảng năm 221 trƣớc công nguyên, hầu hết đất đai của ngƣời Việt đều bị nhà Tần chinh phục. Đông Âu, Mân Việt dần dần bị Hán hóa.
Ngƣời Tây Âu, Lạc Việt đã chống lại quân Tần, chiến thắng quân Tần và thành lập đƣợc những vƣơng quốc độc lập. Đến những thiên kỉ cuối cùng trƣớc công nguyên, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam đã là địa bàn cƣ trú của ngƣời Tây Âu, Lạc Việt. Ngƣời Tây Âu – Lạc Việt chính là tổ tiên của ngƣời Thái ở Vân Nam, ngƣời Choang ở Quảng Tây, ngƣời Lê ở đảo Hải Nam, ngƣời Chủng Chá, Bố Y ở Quý Châu, ngƣời Tày, Nùng, Kinh ở Việt Nam. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ thế, ngƣời Tày cổ vốn là cƣ dân bản địa lâu đời, xuất hiện ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên kỉ I trƣớc Công nguyên.
Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu chủa cheng vua nói về sự có mặt của họ từ những thời kì xa xƣa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nƣớc. Ngƣời Tày cổ là một nhánh của cộng đồng ngƣời Việt cổ. Vào thời dựng nƣớc, cƣ dân của nƣớc Văn Lang, Âu Lạc là ngƣời Việt cổ gồm hai thành phần chính là ngƣời Việt trồng lúa ở đồng bằng gọi là Lạc Việt, ngƣời Việt ở miền núi gọi là Âu Việt. Âu Việt là tổ tiên của dân tộc Tày, mà một số nhà khoa học vẫn quen gọi là ngƣời Tày cổ.
Khi Thục Phán – vua của nƣớc Nam Cƣơng đánh chiếm nƣớc Văn Lang đã hợp nhất Lạc Việt và Âu Việt, lập nên nƣớc Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay), có thể những bộ phận ngƣời Tày cổ ở vùng thƣợng du Bắc Bộ đã hòa hợp vào ngƣời Việt - Mƣờng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ để hình thành dân tộc Việt hiện đại. Bộ phận ngƣời Tày cổ ở lại miền núi chính là tổ tiên ngƣời Tày hiện nay. Lịch sử hình thành của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái đánh dấu hai lần thiên di lớn theo hƣớng Tây Nam và Nam. Lần thiên di thứ nhất là vào nửa cuối thiên kỉ thứ I trƣớc công nguyên, lần thiên di thứ hai là vào những thế kỉ cuối của thiên kỉ thứ I và đầu thiên kỉ thứ II sau công nguyên.
Hai cuộc thiên di lớn đó cùng với những cuộc thiên di nhỏ lẻ, mang tính chất địa phƣơng khác đã dẫn tới sự giao lƣu, tiếp biến và hỗn hợp về nhân chủng, văn hóa giữa các dân tộc với nhau. Kết quả của những biến động trên là khối Tày – Thái có sự phân tách làm hai vào khoảng đầu công nguyên: nhóm Tày – Thái ngành phía đông và nhóm Tày – Thái ngành phía tây. Điểm cực nam của địa vực cƣ trú của ngành Tày – Thái phía đông là vùng núi rừng Việt Bắc. Dân tộc Tày thuộc nhóm Tày – Thái ngành phía đông, sinh sống ở vùng Lƣỡng Quảng Trung Quốc, vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam, thuộc bộ phận ngƣời Tày – Thái có tên gọi là Man – Lão.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên đây, chúng tôi dùng danh từ ngƣời Tày cổ để phân biệt với ngƣời Tày hiện đại, tức ngƣời Tày ở Đông Bắc Việt Nam ngày nay. Thời Đƣờng – Tống (thế kỉ VI - XII), ở ngƣời Tày cổ có sự hình thành nên các bộ lạc và liên minh bộ lạc do một dòng họ lớn đứng đầu, tiêu biểu nhƣ: họ Ninh ở vùng động Nhƣ Tích (Quảng Ninh) và châu Vĩnh An (Quảng Đông), họ Vi ở Tú Lăng, Lộc Châu, Tƣ Bình (Quảng Tây), Tô Mậu (Đình Lập – Lạng Sơn). Từ khoảng thế kỉ VII trở đi, thủ lĩnh của các dòng họ nói trên liên tiếp nổi dậy chống lại triều đình nhà Đƣờng, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc, thủ lãnh châu Thảng Do chiếm các châu của các thủ lãnh lân cận và xƣng vua là Chiêu Thánh hoàng đế, đặt tên nƣớc là Trƣờng Sinh, không nộp cống xƣng thần với Đại Cồ Việt.
Chẳng bao lâu, nƣớc này bị nhà Lý tiêu diệt. Nùng Trí Cao, con của Nùng Tồn Phúc, sau này cùng mẹ từ động Lôi Hỏa trở lại châu Thảng Do, dâng biểu chịu thần phục Đại Cồ Việt. Vua Lý Thái Tông phong cho Trí Cao chức Thái bảo và cho giữ châu Quảng Nguyên. Sau này muốn độc lập, Nùng Trí Cao tự đổi châu thành nƣớc Đại Lịch (còn gọi là Đại Lí quốc, liên hệ với nƣớc Đại Lí gốc Thái ở Vân Nam, trƣớc kia gọi là Nam Chiếu).
Nhà Lý mang quân đánh, bắt sống đƣợc Trí Cao mang về kinh sƣ. Sau vua tha tội, lại cho giữ châu Quảng Nguyên nhƣ cũ, phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình An, Bình Đà và châu Tƣ Lang (nay là Trùng Khánh, Cao Bằng). Nhƣng Trí Cao vẫn giữ nguyên ý nguyện độc lập nên đã liên kết với những ngƣời đồng tộc ở cùng Tả Giang lập ra nƣớc Nam Thiên, lấy niên hiệu là Cảnh Thụy. Ông trở thành thủ lĩnh của các dân tộc Tày, Nùng, Choang ở Đông Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc.
Sau, Nùng Trí Cao tiến hành chiến tranh chống lại nhà Tống, chiếm cứ đƣợc các vùng Ung Châu, Hƣng Châu, Ngô Châu, Quảng Châu. Nhƣng cuối cùng, Nùng Trí Cao bị nhà Tống đánh bại (1053). 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, giữa nhà Lý và nhà Tống xảy ra chiến tranh và đi đến một cuộc điều đình. Sau cuộc điều đình này, biên giới Việt Trung đƣợc phân định rõ ràng hơn.
Các triều đình phong kiến Việt Nam và Trung Quốc tổ chức cai trị nhân dân ở các vùng biên giới một cách chặt chẽ hơn. Từ đó, dân tộc Choang ở Trung Quốc và Tày ở Đông Bắc Việt Nam hình thành và phát triển trong những điều kiện khác nhau. Đó chính là cơ sở để phân tách khối Tày – Choang để hình thành nên ngƣời Tày hiện đại ở Việt Nam ngày nay. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm, do hiện tƣợng hòa hợp dân tộc diễn ra trên những sự kiện có thuộc tính xã hội và hiện tƣợng sinh học trên con ngƣời cụ thể, dân tộc Tày đã dần dần có sự thay đổi về thành phần.
Về cơ bản, dân tộc Tày ở Việt Nam hiện nay là sự hợp thành của bốn thành phần chính là: bộ phận ngƣời Tày bản địa (ngƣời Tày cổ), bộ phận ngƣời Tày gốc Kinh, bộ phận ngƣời Nùng hóa Tày, bộ phận ngƣời Tày thuộc các nhóm đồng tộc đến từ Trung Quốc. Ngƣời Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự kết hợp của ba nhóm Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng. Ở mỗi tỉnh trong vùng, sự kết hợp giữa các thành phần trên lại có mức độ đậm nhạt khác nhau. Cụ thể: Bộ phận ngƣời Tày bản địa: Vùng Đông Bắc, hay hẹp hơn là Việt Bắc là địa vực cƣ trú của ngƣời Tày cổ, hay chính là Tày bản địa.
Các cứ liệu lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, truyền thuyết dân gian đã chứng minh điều đó. Ở Lạng Sơn, Cao Bằng, các nhà khoa học đã phát hiện các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Bắc Sơn, ở Bắc Kạn, nhân dân địa phƣơng cũng tìm ra nhiều công cụ lao động của ngƣời nguyên thủy nhƣ rìu, bôn có vai có nấc ở xã Đông Phúc, Hoàng Trĩ (Ba Bể), Bằng Thành (Pác Nặm)… Một số cứ liệu lịch sử và truyền thuyết Cẩu chủa cheng vua còn cho phép ta đoán định rằng: cuối thế kỉ III trƣớc công nguyên, thủ lĩnh của ngƣời Tày cổ là Thục Phán đã làm vua nƣớc Nam Cƣơng, gồm miền tây tỉnh Quảng Tây và Cao Bằng ngày nay, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với kinh đô là Nam Bình, tức Cao Bình (Hòa An – tỉnh Cao Bằng). Thục Phán đánh chiếm nƣớc Văn Lang, là nƣớc láng giềng bị suy yếu, hợp nhất hai bộ lạc Âu và Lạc, thành lập nƣớc Âu Lạc, lấy ngôi hiệu là An Dƣơng Vƣơng, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội ngày nay). Những cứ liệu này đã cho thấy sự có mặt từ rất sớm của ngƣời Tày cổ ở khu vực Đông Bắc.
Ngƣời Tày có mặt ở đây trƣớc ngƣời Nùng, nên thƣờng chiếm những vùng đồng ruộng thấp. Từ sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao (thế kỉ XI), biên giới Việt Trung đƣợc quy định rõ ràng hơn, ngƣời Tày dần tách ra khỏi ngƣời Choang và dần hình thành dân tộc Tày hiện đại.