phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 03 chương 06 tiết. 15 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VỚI GI O DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1. KH I NIỆM VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ, GI O DỤC VÀ ĐÀO TẠO, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Khái niệm về tăng trƣởng kinh tế và các tiêu chí cơ bản đánh giá về tăng trƣởng kinh tế Thuật ngữ Tăng trưởng (growth) dùng để chỉ sự tăng thêm, sự lớn lên, sự mở rộng quy mô của một hiện tượng hay hệ thống nào đó (Lương Việt Hải, 2008, tr.
Cùng với quan điểm trên, Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002b) đã cho rằng: “Tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước liên quan đến toàn bộ quá trình trong một phần của quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội” (tr. Từ các quan điểm trên có thể hiểu: Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa để trao đổi mua bán trên thị trường. Đề cập đến tăng trưởng kinh tế, Nguyễn Văn Ngọc (2006) phát biểu: “Tăng trưởng kinh tế (Economic growth) là sự gia tăng sản lượng tiềm năng theo thời gian của một nền kinh tế” (tr. Còn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005b) cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng thực tế theo thời gian của một nền kinh tế, góp phần quan trọng đối với sự phồn vinh chung của xã hội” (tr.
Cùng với quan điểm này, Phạm Xuân Nam (2005) nêu: “tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hoặc sản lượng tính bằng toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định” (tr. Từ các quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, tăng trưởng kinh tế thể hiện 16 qua quy mô và tốc độ sản xuất ra của cải vật chất trong từng giai đoạn của nền sản xuất xã hội. Song ở đây chúng ta không nên đồng nhất thuật ngữ tăng trưởng kinh tế với thuật ngữ phát triển kinh tế, bởi lẽ phát triển kinh tế không chỉ quan tâm đến tốc độ mà còn hướng đến giải quyết những vấn đề an sinh con người như việc làm, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Với cách hiểu này thì nội hàm của tăng trưởng kinh tế hẹp hơn nội hàm của phát triển kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế quan tâm đến số lượng sản phẩm tạo ra trong đơn vị thời gian, song phát triển kinh tế ngoài việc quan tâm đến số lượng sản phẩm tạo ra trong đơn vị thời gian mà còn quan tâm đến vấn đề xã hội (giải quyết việc làm, giảm nghèo, an sinh xã hội) và bảo vệ môi trường. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) đã nêu: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững” (tr.
Ngoài ra, hiện nay thế giới đang tồn tại các mô hình kinh tế điển hình: Mô hình tăng trưởng bao trùm nhằm hướng đến hướng tới sự bền vững trong dài hạn, trong đó bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển con người. Mô hình tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh đến sự tham gia, chứ không chỉ là kết quả. Mọi người được bình đẳng tham gia đóng góp và chia sẻ lợi ích có được từ tăng trưởng kinh tế. Thay vì chỉ nhằm vào các nhóm dân cư có mức thu nhập 17 thấp hơn như mô hình tăng trưởng vì người nghèo, mô hình tăng trưởng còn bao trùm hướng tới việc bao quát tất cả các thành viên trong xã hội, bao gồm cả người nghèo, cận nghèo, trung lưu và người giàu; cả nam và nữ; cả dân tộc đại đa số với dân tộc thiểu số; cả các cộng đồng tôn giáo khác nhau; cả những người làm việc trong khu vực nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ (Nguyễn Văn Công, 2019).
Chương trình tăng trưởng xanh được cụ thể hóa thông qua “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”. Trong đó khẳng định: Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Mô hình tăng trưởng kinh tế tuần hoàn được hiểu là mô hình kinh tế bao gồm các hoạt động từ khâu thiết kế, sản xuất đến cung cấp dịch vụ đều hướng tới tái sử dụng vật chất và loại bỏ những ảnh hưởng xấu đến môi trường. Phát triển kinh tế tuần hoàn đang dần trở thành xu hướng của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhằm giải quyết những thách thức ngày càng lớn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững.
Khác với nền kinh tế tuyến tính (mô hình kinh tế truyền thống với đặc trưng là khai thác tài nguyên, sản xuất sản phẩm và phần còn lại của sản phẩm bị vứt bỏ sau tiêu thụ; phát triển theo chiều rộng, phù hợp trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nhưng để lại nhiều hệ lụy do sự cạn kiệt tài nguyên và lượng phế thải khổng lồ thải ra môi trường), mô hình kinh tế tuần hoàn đặt mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến 18 môi trường (Nguyễn Tấn Vinh và Võ Hữu Phước, 2022). Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các nhà khoa học về tăng trưởng kinh tế, luận án tiếp cận: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng nền kinh tế, gia tăng thu nhập của người dân trong một thời gian nhất định của một quốc gia, một vùng hay một ngành kinh tế gắn với phát triển toàn diện con người, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị - xã hội và tăng cường an ninh - quốc phòng. Nhóm các tiêu chí cơ bản đánh giá về tăng trưởng kinh tế - Tiêu chí phản ánh tốc độ, quy mô được thể hiện qua: GDP (chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng) và GNI/người (chỉ tiêu phản ánh thu nhập). Trong điều kiện phải đảm nhận nhiệm vụ quan trọng tạo tiềm lực kinh tế cho phát triển xã hội, đặc biệt là giáo dục và đào tạo, với mục tiêu đạt thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) vào năm 2030 là 6.500-7000USD, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong thời gian đến năm 2030 phải đạt con số trên 7-8%/năm (bảo đảm tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người 6-7% trong điều kiện tăng trưởng dân số ở mức 1%/năm).
- Tiêu chí phản ánh cấu trúc tăng trưởng: Tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TEP) vào tăng trưởng. Để bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng trong thời gian dài, cần có tiêu chí cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào hợp lý, trong đó nhân tố nhấn mạnh đến sự đóng góp của TEP cần có xu hướng tăng dần lên và phải đạt mức độ trên 50% mới bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững và hiệu quả. - Tiêu chí phản ánh hiệu quả tăng trưởng: Năng suất lao động được xác định bằng giá trị GDP tính bình quân cho một lao động. Để bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP nhanh và lâu dài (bình quân trên 7-8%/năm) thì năng suất lao động (tính theo giá cố định) phải đạt mức bình quân 6- 7%/năm; suất đầu tư tăng trưởng: được xác định lượng vốn đầu tư cần có để có một đơn vị thu nhập GDP tăng thêm.
Khái niệm về giáo dục, đào tạo, giáo dục và đào tạo Trong quá trình lao động con người tạo ra của cải vật chất, tinh thần và cải tạo chính bản thân mình, đồng thời con người dần dần tích luỹ được nhiều kinh nghiệm bao gồm kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm chinh phục tự nhiên. Kinh nghiệm càng ngày càng dồi dào, từ đó con người nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết, những kinh nghiệm ấy cho nhau. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, (2002b) cho rằng: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” (tr.
Khi đề cập đến giáo dục, C.Ăngghen (1995) cho rằng: “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác tùy theo nhu cầu của xã hội hoặc tùy theo sở thích của bản thân họ. Do đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi một người phải theo” (tập 4 tr. Quan điểm này cho chúng ta thấy giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động có trình độ, chuyên môn phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc; bên cạnh đó giáo dục quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia, dân tộc.