Chương 1: Giới thiệu đề tài. Giới thiệu tổng quát về bài nghiên cứu về lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu đề tài. 6 Chương 2: Tổng quan về rủi ro, hiệu quả hoạt động ngân hàng. Chương 2 đưa ra những nét khái quát nhất những liên thuyết liên quan đến những vấn đề được đề cập trong bài nghiên cứu, giới thiệu các bằng chứng về mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động đã được các nhà nghiên cứu tìm ra cùng với các tranh luận quanh vấn đề này.
Chương 3: Thực trạng về công tác quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Luận văn sẽ giới thiệu sơ nét về tình hình rủi ro và hiệu quả hoạt động các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2007-2015 tại Việt Nam. Chương 4: Phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần tại Việt Nam. Chương này sẽ trình bày phương pháp, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu.
Kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, bằng chứng từ thị trường Việt Nam. Chương 5: Kết luận và đề xuất cho các NHTM cổ phần tại Việt Nam. Ở chương này, ho ̣c viên tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận văn cũng đề xuất một số phương pháp nhằm cải thiện hiệu quả cũng như giảm thiểu rủi ro hoạt động của các NHTM cổ phần tại Việt Nam.
7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu của luận văn, nội dung của chương 2 hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết về hiệu quả sử dụng nguồn lực, rủi ro của NHTM và mối quan hệ giữa hiệu quả và rủi ro trong hoạt động của hệ thống NHTM. Cụ thể, nội dung chương, bao gồm: giới thiệu và phân loại cách đo lường hiệu quả và rủi ro hoạt động của NHTM, hệ thống hoá cơ sở lý luận cũng như lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để chỉ ra các mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động và rủi ro trong hoạt động của các NHTM.1 Khung lý thuyết về hiệu quả hoại động ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Có nhiều định nghĩa khác nhau về hiệu quả hoạt động của NHTM, theo García- Herrero, Gaviláb và Santabárbara (2009), thì khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính mà ngân hàng đang nắm giữ. Khả năng sinh lời phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của ngân hàng như thế nào trong môi trường kinh doanh. Theo Rose (2008), bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Theo như hai định nghĩa trên ta có thể rút ra rằng, hiệu quả hoạt động ngân hàng là khả năng gia tăng khả năng sinh lời, gia tăng thu nhập để bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Dễ dàng nhận ra rằng nếu đánh giá theo khía cạnh này thì các nhà nghiên cứu chủ yếu sẽ dựa trên phương pháp phân tích các chỉ số tài chính, phương pháp truyền thống được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của NHTM trước đây. 8 Ngoài ra, cũng có nhiều cách định nghĩa khác về hiệu quả hoạt động, theo Hughes & Mester (2008) cho rằng một Ngân hàng được xem là hoạt động hiệu quả khi cải thiện được tình trạng bất cân xứng thông tin giữa người đi vay và người cho vay, có khả năng đạt được một cách chính xác thông tin về triển vọng tài chính của người đi vay, nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Hay theo ECB (European Central Bank) (9/2010), thì hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, là khả năng tạo ra doanh thu từ một số tiền nhất định và tạo ra thu nhập từ những nguồn sinh thu nhập cụ thể. Trong phạm vi luận văn này, quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, tác giả dựa trên định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” của Nguyễn Khắc Minh (2004), Berger và Mester (1997) là chủ yếu. Theo đó, Berger và Mester (1997) coi hiệu quả hoạt động của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Và theo “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” của Nguyễn Khắc Minh (2004) thì "hiệu quả - efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào, các yếu tố khan hiếm, với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu đã định trước.
Tóm lại, dựa theo định nghĩa này, hiệu quả hoạt động phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, nó thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào bỏ ra để có được kết quả đó, chênh lệch giữa hai yếu tố này càng lớn thể hiệu quả càng cao. Và nếu xét theo theo khía cạnh này để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM, thì các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên bao gồm phân tích tham số và phân tích phi tham số để nghiên cứu và phân tích.2 Các nhân tố tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Đa số những nghiên cứu trước đây, đều dựa trên những mục đích cơ bản được xác định ban đầu của nghiên cứu cũng như kết quả của các nghiên cứu trước đó để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng đưa vào tiến hành hồi quy, chạy mô hình định lượng và theo như Manlagnit (2015) nhận định thì thật sự chưa có một lý thuyết nào về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, như yếu tố về tính chất sở hữu, vùng địa lý (Cebenoyan, Cooperinan, Register và Hudgins, 1993; Berger, Hasan và Zhou, 2009); yếu tố về tuổi, quy mô, loại hình ngân hàng (Mester 1997; Manlagnit 2011); yếu tố về cơ cấu tổ chức, kiểm soát quản lý (Berger và DeYoung 2000; Okuda, Hashimoto và Murakami, 2002; Valverde, Humphrey và Del Paso, 2007) và hiệu quả kinh tế (Ferrier, 2001; Christopoulos, Lolos, Tsionas năm 2002; Pasiouras, Tanna và Zopounidis năm 2009). Nhìn chung trong các nghiên cứu trước đây đều chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thành 2 nhóm chính là các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài ngân hàng.
Cụ thể trong nghiên cứu của Altunbas; Carbo; Gardener; Molyneux năm 2007 khi nghiên cứu về các ngân hàng tại Châu Âu thì các yếu tố nội bộ bao gồm quy mô, rủi ro hoạt động (tỷ lệ dự phòng nợ xấu), cơ cấu vốn; các yếu tố bên ngoài thì được chia thành 2 nhóm yếu tố đặc điểm ngành ngân hàng gồm cơ cấu vốn ngành, đặc điểm hoạt động ngành đặc trưng bởi các biến khả năng sinh lời của ngành, tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản của ngành, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản và tỷ lệ dự phòng nợ xấu ngành; yếu tố về đặc điểm quốc gia đại diện bởi các biến chênh lệch lãi suất trái phiếu trong vòng 3 năm, tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên vốn ngắn hạn của các công ty phi tài chính của quốc gia. Trong nghiên cứu của Tan và Floros (2013) khi nghiên cứu các ngân hàng tại Trung Quốc cũng chia làm 2 nhóm chính là các yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên 10 trong bao gồm: rủi ro hoạt động (đặc trưng bởi bốn chỉ số là tỷ lệ dự phòng rủi ro, độ lệch chuẩn của ROA, độ lệch chuẩn của ROE và Z-core), quy mô vốn, khả năng sinh lời, quy mô tổng tài sản, cơ cấu vốn, chất lượng đội ngũ lao động. Yếu tố bên ngoài cũng chia làm 2 nhóm chính là yếu tố ngành và yếu tố đặc điểm quốc gia.
Trong đó yếu tố ngành bao gồm: mức độ tập trung thị trường, mức độ vốn hóa thị trường chứng khoán (thể thiện lượng vốn mà ngân hàng huy động được thông qua thị trường chứng khoán) và tổng tài sản ngành. Yếu tố quốc gia bao gồm tình trạng lạm phát và tăng trưởng GDP hàng năm. Và gần đây, trong nghiên cứu của Manlagnit (2015) khi nghiên cứu sự tác động của các quy định về an toàn vốn trong Basel lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Philippin cũng phân chia tương tự như 2 nghiên cứu trên nhưng được bổ sung thêm một số biến về chính sách. Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), thì các yếu tố được đưa vào để đánh giá sự tác động lên hiệu quả hoạt động bào gồm nhóm các yếu tố nội bộ như: tỷ lệ chi phí trên doanh thu, loại hình ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay, tỷ lê vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Ngoài ra nghiên cứu còn đưa thêm vào một yếu tố về ngành là thị phần của các ngân hàng thương mại vào phân tích. Năm 2014, nghiên cứu của Thân Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Hồng Chuyên, đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2013.