Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng về quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Nghi Sơn Chƣơng 3: Giải pháp về quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Nghi Sơn. 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 1. RỦI RO TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm, tác động của rủi ro trong cho vay cá nhân tại NHTM Khái niệm rủi ro Theo Peter S.
Rose trong cuốn sách “Commercial Bank Management” cho rằng rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là “mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện”. Theo Nguyễn Minh Kiều (2015): “Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn”. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những trạng thái không chắc chắn nào có thể ƣớc đoán đƣợc xác suất xảy ra mới đƣợc xem là rủi ro.
Những tình trạng không chắc chắn nào chƣa từng xảy ra và không thể ƣớc đoán đƣợc xác suất xảy ra đƣợc xem là sự bất trắc chứ không phải rủi ro. Cách định nghĩa rủi ro trên đây giúp chúng ta có thể phân biệt đƣợc rủi ro và sự bất trắc nhƣng không cho phép đo lƣờng đƣợc rủi ro. Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), rủi ro là “sự không chắc chắc liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai”. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong 9 những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” (Dictionary of Banking systems Barron’s Edutional Series, Inc, 1997) Theo Hennie Van Greuing-Sonja B rajovic Bratanovic:“Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của NHTM. Rủi ro tín dụng là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là chi trả toàn bộ, điều này đã gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của Ngân hàng” (Hennie Van Greuing-Sonja B rajovic Bratanovic,1999) Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động nhân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Nhƣ vậy, có thể hiểu nội dung rủi ro tín dụng bao gồm hai đặc điểm chính: - Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngƣời vay sai hẹn hoặc trong thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, bao gồm nợ gốc và lãi khoản vay.
Sự sai hẹn có thể là trễ hẹn hoặc không thanh toán. - Rủi ro tín dụng dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng của vốn. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Đối với các nƣớc đang phát triển (nhƣ Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ côngnghèo nàn, vì vậy tín dụng đƣợc coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm 10 chí gần nhƣ duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ.
Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng nhƣ bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thƣơng mại, cho vay ở thị trƣờng liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án… Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi đƣợc vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhƣng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu đƣợc nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi gặp phải rủi ro tín dụng, ngân hàng thƣờng rơi vào trạng thái mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin ngƣời gửi tiền, ảnh hƣởng đến uy tín của ngân hàng.
Đặc điểm rủi ro tín dụng - Một là, rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Tính chất đa dạng và phức tạp của RRTD đƣợc biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến RRTD, cũng nhƣ các hậu qua do RRTD gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi phòng ngừa và hạn chế RRTD cần phải áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, không chủ quan với bất kỳ dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó trong quá trình xử lý hậu quả do RRTD cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đƣa ra biện pháp phù hợp. - Hai là, rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (trong đó chủ yếu là RRTD) ở mức độ phù hợp để đạt đƣợc mức lợi nhuận tƣơng ứng.
Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến rủi ro, đặc biệt là không thể có đƣợc thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh, đầu tƣ, nhu cầu đời sống của khách hàng vay, nên bất cứ khoản vay 11 nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM. Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động có những biện pháp thích hợp để xác định rủi ro, định lƣợng rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro. - Ba là, rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo +) Các rủi ro có thể dự báo trước: Danh mục cho vay hoặc đầu tƣ của một NHTM luôn luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chƣa đƣợc xác định. Tuy nhiên, nếu giả định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn chung vẫn giống nhau trong một giai đoạn hợp lý thì NHTM có thể dự báo đƣợc các khoản thất thoát này với một mức độ tƣơng đối chính xác bằng cách nghiên cứu các đặc điểm diễn biến của danh mục cho vay theo thời gian.
+) Các rủi ro không thể dự báo: có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chƣa phát sinh tại thời điểm ký kết hợp đồng là những nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro mà các NHTM không thể dự báo trƣớc. Phân loại rủi ro tín dụng (1) Theo nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng: rủi ro tín dụng được chia thành 2 loại: Rủi ro giao dịch và Rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
12 + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. (2) Căn cứ vào mức độ tổn thất, RRTD có thể phân loại thành: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Là rủi ro xảy ra khi đến hạn thanh toán nợ vay nhƣng khách hàng không trả nợ đúng hạn. - Rủi ro mất khả năng chi trả: là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý TSĐB (TSĐB) để thu nợ. (3) Theo đối tượng vay vốn, RRTD có thể phân loại thành: - Rủi ro khách hàng cá thể: Là rủi ro xảy ra khi cho các khách hàng là cá nhân vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, hoặc cả gốc và lãi đúng hạn.