Luận án tiến sĩ luật học mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

201
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp

Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp là trọng tâm của học thuyết phân quyền và là nội dung cốt lõi trong các bản Hiến pháp. Theo học thuyết của Montesquieu, quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định mô hình chính thể của quốc gia. Sự phân chia và kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh này phản ánh mức độ dân chủ trong xã hội. Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu về sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước, đặc biệt là giữa Quốc hội Việt NamChính phủ Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm

Khái niệm quyền lập phápquyền hành pháp được xác định rõ trong Luật pháp Việt Nam. Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, có nhiệm vụ ban hành Hiến pháp và luật. Quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, cơ quan thực thi pháp luật và quản lý nhà nước. Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bởi sự phân công rõ ràng nhưng vẫn đảm bảo sự phối hợp và kiểm soát lẫn nhau. Điều này nhằm ngăn chặn sự lạm quyền và đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

1.2. Yêu cầu và nội dung

Yêu cầu của mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phải đảm bảo sự cân bằng quyền lực. Quốc hội có quyền giám sát hoạt động của Chính phủ, trong khi Chính phủ có trách nhiệm thực thi các chính sách và luật pháp do Quốc hội ban hành. Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh này cần được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nguyên tắc kiểm soát quyền lực như một nền tảng cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước.

II. Thực trạng quy định pháp luật

Thực trạng quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp ở Việt Nam được thể hiện qua các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến nay. Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên áp dụng tư tưởng phân quyền, trong đó hành pháp có quyền kiểm soát lập pháp. Tuy nhiên, các bản Hiến pháp sau như Hiến pháp 1959 và 1980 lại chịu ảnh hưởng của tư duy tập quyền XHCN, làm giảm tính độc lập và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực. Hiến pháp 1992 và 2013 đã có những cải cách quan trọng, đặt nền móng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực rõ ràng hơn.

2.1. Phân công quyền lực

Phân công quyền lực giữa Quốc hội Việt NamChính phủ Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại những bất cập. Quốc hội có quyền kiểm soát Chính phủ, nhưng Chính phủ lại không có cơ chế phản biện hiệu quả đối với các quyết định của Quốc hội. Điều này dẫn đến sự mất cân bằng trong cơ chế kiểm soát quyền lực. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về phân công quyền lực cần được thực hiện để đảm bảo sự cân bằng và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

2.2. Kiểm soát quyền lực

Kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và hành pháp là yêu cầu cấp thiết trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện nay, Quốc hội có quyền giám sát Chính phủ, nhưng cơ chế này chưa thực sự hiệu quả. Cần xây dựng các quy định pháp luật cụ thể để tăng cường tính độc lập và hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực, đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

III. Giải pháp hoàn thiện

Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc tiếp thu kinh nghiệm từ các mô hình chính thể trên thế giới, đặc biệt là từ Hiến pháp 1946, là cần thiết để xây dựng một cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Đồng thời, cần tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình cải cách.

3.1. Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế

Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp là cần thiết để hoàn thiện các quy định pháp luật ở Việt Nam. Các mô hình chính thể như đại nghị, tổng thống và hỗn hợp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Việc lựa chọn và áp dụng những yếu tố phù hợp từ các mô hình này sẽ giúp xây dựng một cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực hiệu quả trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3.2. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng

Trong quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật, cần đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là yếu tố đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Các giải pháp cải cách cần được thực hiện một cách thận trọng, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề ở việc thực hiện quyền lực nhà nước như thế nào mà không đề cập vấn đề kiểm soát quyền lực đó ra sao6. Có thể kết luận rằng bản chất của phân quyền không có gì khác hơn chính là sự phân công, phối hợp để tiến tới sự kiểm soát; dùng quyền lực để giới hạn quyền lực; nhằm mục đích không để quyền lực đi đến chỗ lạm quyền. Đằng sau lý thuyết ấy chính là triết lý về bản chất cũng như mối quan hệ giữa con người - quyền lực - chính quyền. Sự ra đời của học thuyết phân quyền “đã đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng quyền lực dã man trong các xã hội chuyên chế sang thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ”7.

Có thể khẳng định rằng, những tư tưởng mang tính chất khai sáng của Montesquieu trong tác phẩm“Tinh thần pháp luật” như: sự phân chia các nhánh quyền lực, đặc điểm của các nhánh quyền lực, mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực,… là nguồn tư liệu rất quan trọng để tác giả kế thừa và phát triển trong vào nó”. Theo đó, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp. Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về Nghị viện; Nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng.

Quyền hành pháp phải thuộc về Nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, Chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của Nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh: giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại (https://vi.org/wiki/Kh%E1%BA%BF_%C6%B0%E1%BB%9Bc_x%C3%A3_h%E1%BB%99i).

6 Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 7 Phạm Thế Lực (2008), “Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 127.

Phần cơ sở lý luận của Luận án như khái niệm, đặc điểm, nội dung, yêu cầu của mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp; mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong các mô hình chính thể và phương hướng, giải pháp đổi mới đều xuất phát từ nền tảng tư tưởng phân chia quyền lực của Montesquieu. (2) Hai quyển sách “Chính thể đại diện” (Representative government) xuất bản năm 1861 và “Bàn về Tự Do” (On Liberty) được viết năm 1859 của John Staurt Mill. Hai quyển sách này được dịch sang tiếng việt là Chính thể đại diện năm 2008 (Người dịch: Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn, Nxb. Tri thức) và Luận về Tự do năm 2005 (Nxb.

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Hai quyển sách này của J. Mill là những tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây. Đây được xem như những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị - xã hội ở các nước Anh và Hoa Kỳ thế kỷ XIX.

Những vấn đề nêu ra trong quyển sách đều được phân tích một cách khách quan, khoa học, các nhận xét đều có căn cứ lập luận rõ ràng và dựa trên những bằng chứng thực tế hay lịch sử. Do vậy, cuốn sách này có mức độ tin cậy rất cao. Nội dung của nó xoay quanh các vấn đề chính là tác động của Nhân dân đối với sự thành bại của chính thể đại nghị, chức năng của các bộ phận quyền lực hợp thành chính thể và một số chủ đề liên quan đến đặc thù của nước Anh thế kỷ XIX. Mill cũng đúc kết ra ba điều kiện để một hình thức chính thể có thể tồn tại trong xã hội: một là, dân chúng trong xã hội đó phải thuận nguyện chấp nhận nó; hai là, họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó; ba là, họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.

Về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp thì J. Mill ủng hộ sự cần thiết phải có một cơ chế đảm bảo tính độc lập tương đối giữa hai nhánh quyền lực này vì “Không nên có bất cứ cơ hội nào để cho sự bế tắc trong chính trị xuất phát từ mối bất hòa giữa Tổng thống và Quốc hội, dù lỗi của ai, kéo dài trong khoảng thời gian có thể là nhiều năm, lại trở thành phương kế hợp pháp để người này cưỡi lên lưng người khác”8. Theo đó, tính độc lập này sẽ đảm bảo cho hành pháp có thể tự do tùy ý quyết định tổ chức bầu một Nghị viện mới vào bất kỳ lúc nào. Như vậy, quyển sách của J.

Mill đã trình bày một cách đầy đủ và thuyết phục những vấn đề liên quan đến hình thức chính thể đại diện. Cuốn sách nói lên sự cần thiết phải xây dựng cơ chế kiểm soát giữa lập pháp và hành pháp với nhau để đảm bảo một nền dân chủ thực sự. Đây là những thông tin bổ ích, có liên quan trực tiếp đến đề tài của tác giả và có thể được tác giả sử dụng để phát triển nhiều nội dung trong Luận án của mình. 8 John Stuart Mill, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch (2008), Chính thể đại diện, Nxb.

Tri thức, Hà Nội, tr. 12 (3) Quyển sách “Những đại chính thể ở châu Âu” của Alex N. Cuốn sách giới thiệu cho người đọc về nền chính trị châu Âu, bao gồm Liên Xô cũ và sự nổi lên của Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập, chính sách nhập cư ở Pháp và Đức, sự gia tăng của tính bài ngoại ở Anh. Khi xem xét sự đa dạng trong chính thể ở Vương quốc Anh, Pháp và Đức, tác giả cho rằng các cấu trúc cơ bản của các Chính phủ này vẫn giữ nguyên.

Ví dụ, cấu trúc đảng phái chính trị của Anh khá ổn định, cũng như hoạt động chính trị và nền tảng của Chính phủ trong Quốc hội, dịch vụ dân sự, chức năng hành pháp và tư pháp, dù không có Hiến pháp bằng văn bản. Điều này cũng đúng với Pháp và Đức, mặc dù Đức đã phải tích hợp dân số và thể chế với sự tái gia nhập của Đông và Tây Đức. Những kiến thức của quyển sách này sẽ được tham khảo và vận dụng để viết mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong các mô hình chính thể. (4) Quốc hội và các thành viên (Tác giả: Roger H.

Davidson và Walter J. Oleszek, Người dịch: Trần Xuân Danh, Trần Xuân Giang, Minh Long, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002). Quyển sách này có bốn nội dung chính: Thứ nhất, khám phá hai Quốc hội; Thứ hai, Quốc hội của các đại diện; Thứ ba, Hội đồng nghị sự của một quốc gia; Thứ tư, quá trình hoạch định chính sách và sự thay đổi trong hai Quốc hội.

Trong các nội dung trên, tác giả có thể kế thừa các phân tích trong phần nội dung thứ hai về nguồn gốc của sự hợp tác hành pháp - lập pháp, nguồn gốc của sự xung đột hành pháp - lập pháp, Quốc hội tổ chức và kiểm soát bộ máy hành pháp, hành chính. Những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận vững chắc cho Chương II của Luận án. Dựa trên cơ sở này, tác giả sẽ làm rõ hơn về nguồn gốc hình thành mối quan hệ cũng như ảnh hưởng của Đảng phái chính trị đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp ở Hoa Kỳ - nơi khai sinh ra chính thể cộng hòa tổng thống. (5) Khái quát về chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Người dịch: Trần Đình Nghiên, Hoàng Long, Nxb.

Chính trị quốc gia, 2003). Quyển sách trình bày tập trung về cơ cấu tổ chức của chính quyền Hoa Kỳ, cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết cho quá trình tìm hiểu về chính quyền của đất nước này. Trong đó nội dung về ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp được thể hiện ở Chương III, IV, V của quyển sách. Nhiệm vụ của Tổng thống là bảo vệ Hiến pháp và thực thi luật pháp do Quốc hội ban hành.

Tổng thống Hợp Chúng quốc là một trong những chức vụ có thế quyền nhất trên thế giới. Tuy vậy, cũng có những hạn chế quyền lực nhất định đối với Tổng thống - người đứng đầu ngành hành pháp ở Hoa Kỳ. Được xây dựng trên nền tảng là nguyên tắc tam quyền phân lập, chính quyền Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ là một trong những mô hình không thể không nhắc đến khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp. Quyển sách cung cấp một lượng thông tin đa 13 dạng và bổ ích, cụ thể là các nội dung này được sử dụng tham khảo ở Chương II của Luận án.

Có thể nói, các tài liệu nghiên cứu về quyền lực nhà nước nói chung9, về quyền lập pháp và hành pháp nói riêng trên thế giới rất đa dạng về hình thức nghiên cứu và có nội dung phong phú. Đó là những nguồn tài liệu cung cấp kiến thức lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho các nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai và hoàn thiện mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp như Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp trong các cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây. Có thể sắp xếp nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua như sau: Thứ nhất, những tác phẩm có liên quan đến lý thuyết về Hiến pháp, lý thuyết về Nhà nƣớc pháp quyền, lý thuyết phân quyền và Bộ máy nhà nƣớc: Một là, về Giáo trình: (1) Luật Hiến pháp và chính trị học (Tác giả: Nguyễn Văn Bông, Nxb.

Sài Gòn, 1966); (2) Luật Hiến pháp và các định chế chánh trị (Tác giả: Lê Đình Chân, Nxb. Tủ sách Đại học, 1971); (3) Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản (Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Bùi Xuân Đức chủ biên, Nxb. Tổng hợp Hà Nội 1993); (4) Luật Hiến pháp nước ngoài (Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Nxb.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Mối Quan Hệ Giữa Lập Pháp Và Hành Pháp Trong Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" khám phá mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nhánh quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp, nhằm đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ mối quan hệ này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về cơ chế hoạt động của nhà nước, mà còn cung cấp những kiến thức cần thiết để tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn bi kịch trong văn học việt nam hiện đại, nơi phân tích các tác phẩm tiêu biểu trong văn học Việt Nam, từ đó liên hệ đến các vấn đề pháp lý trong xã hội. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học cơ sở pháp lý của hệ thống thuế việt nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các cơ sở pháp lý trong hệ thống thuế, một phần quan trọng trong việc thực thi chính sách của nhà nước. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra những góc nhìn mới về mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn trong xã hội Việt Nam.