chương 1 giới thiệu vấn đề nghiên cứu, chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và thực nghiệm các vấn đề liên quan, chương 3 mô tả dữ liệu và đưa ra phương pháp nghiên cứu, chương 4 trình bày kết quả thu được và chương 5 là kết luận. 4 Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Tổng quan một số lý thuyết 2.1 Các khái niệm Độ bất ổn tăng trưởng (Growth Volatility) là mức độ biến động của tốc độ tăng trưởng GDP (Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội) trong một phạm vi thời gian nhất định. Về mặt toán học, độ bất ổn tăng trưởng chính là độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP trong một phạm vi thời gian nhất định. Với một mức độ bất ổn nhất định thì giá trị tăng trưởng sẽ dao động theo một trong hai hướng là (1) tăng trưởng cao hơn hoặc (2) tăng trưởng thấp đi.
Khi độ bất ổn này gia tăng, có nghĩa là mức độ biến động của tăng trưởng GDP trong một phạm vi thời gian cũng lớn hơn, khi đó mức độ gia tăng hoặc làm giảm tốc độ tăng trưởng cũng lớn hơn. Nếu mức độ gia tăng lớn thì nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng “nóng”, tất nhiên là không thể duy trì tốc độ này lâu dài chưa kể hệ lụy liên quan như lạm phát cao. Còn nếu mức độ giảm quá nhiều thì có khả năng tăng trưởng sẽ bị âm tức nền kinh tế bị suy thoái, cũng dẫn đến những hệ lụy về nhiều phương diện trong xã hội. Như vậy, độ bất ổn tăng trưởng thể hiện tính ổn định của tốc độ tăng trưởng, qua đó tạo điều kiện cho sự tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Do đó, cần duy trì độ bất ổn tăng trưởng ở một mức độ nhất định để tránh những tình trạng trên. Độ mở thương mại (Trade Openness) là mức độ hội nhập của một quốc gia vào thương mại quốc tế, bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu. Khi mức độ mở cửa thương mại tăng đồng nghĩa với hạn chế các biện pháp bảo hộ mậu dịch trong nước, qua đó thúc đẩy hoạt động thương mại với các nước khác. 5 Độ mở tài chính (Financial Openness) là mức độ hội nhập của một quốc gia vào thị trường tài chính quốc tế.
Độ mở tài chính càng cao thì các quy định hạn chế dòng vốn vào và ra nền kinh tế cũng ít đi, và do đó các dòng vốn này ra và vào nền kinh tế tự do hơn.2 Mối quan hệ giữa độ bất ổn tăng trưởng và các độ mở Về mặt lý thuyết, tác động của các độ mở đối với độ bất ổn tăng trưởng có thể xem xét dưới các khía cạnh chia sẻ rủi ro và sự chuyên môn hóa sản xuất dựa theo Kalemli-Ozcan và cộng sự (2003). Với quốc gia có độ mở cao thì khả năng chia sẻ rủi ro cũng tốt hơn, qua đó lảm giảm được bất ổn tăng trưởng. Tuy vậy, theo Kalemli-Ozcan và cộng sự (2003) thì chia sẻ rủi ro và phân hóa sản xuất có mối quan hệ dương với nhau, nghĩa là khả năng chia sẻ rủi ro tốt hơn sẽ dẫn đến sự chuyên môn hóa sản xuất dựa theo lợi thế so sánh, dẫn đến nền kinh tế dễ tổn thương hơn với các cú sốc đặc thù quốc gia và làm đột bất ổn gia tăng.1 Độ bất ổn tăng trưởng và độ mở thương mại Tác động của độ mở thương mại đối với độ bất ổn tăng trưởng được xem xét theo 02 chiều hướng: Một mặt, việc mở cửa thương mại tạo ra khả năng chia sẻ rủi ro làm giảm độ bất ổn tăng trưởng bằng cách đa dạng hóa đối tác thương mại hoặc đa dạng hóa rổ sản phẩm xuất khẩu. Điều này giúp hạn chế được rủi ro từ sự phụ thuộc vào một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu hoặc một số đối tác.
6 Độ bất ổn tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng Độ mở thương mại Hình 2.1 Tác động thuần âm của độ mở thương mại đối với độ bất ổn tăng trưởng dựa theo Cavallo (2007) Mặt khác, độ mở thương mại làm gia tăng độ bất ổn tăng trưởng. Việc mở cửa thương mại không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất và xuất khẩu mà nó còn tạo sự chuyên môn hóa ngày càng lớn trong nền kinh tế, đó là các hàng hóa có lợi thế so sánh sẽ được tập trung sản xuất nhiều hơn. Điều này dẫn đến tính bất ổn của các ngành có hàng hóa xuất khẩu cũng lớn hơn và càng dễ tổn thương hơn bởi không chỉ phải đối mặt với rủi ro từ các cú sốc bên trong mà còn cả các cú sốc bên ngoài. Độ bất ổn tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng Độ mở thương mại Hình 2.2 Mối quan hệ dương giữa độ mở thương mại và độ bất ổn tăng trưởng theo Kose và cộng sự (2005) 7 Hai tác động trên có thể nói là tồn tại cùng nhau nhưng tác động nào có thể lấn át được thì tùy thuộc vào từng quốc gia cụ thể.
Nếu tác động âm (độ mở thương mại làm giảm độ bất ổn tăng trưởng) lấn át được tác động dương thì tác động thuần sẽ mang dấu âm (như hình 2.1), ngược lại sẽ mang dấu dương (như hình 2.2), hoặc nếu cả hai tác động không trội hơn lẫn nhau thì lúc này có thể xem độ mở thương mại không có tác động đáng kể đến độ bất ổn tăng trưởng.2 Độ bất ổn tăng trưởng và độ mở tài chính Tương tự như độ mở thươg mại thì độ mở tài chính cũng tác động đến độ bất ổn tăng trưởng theo 02 hướng: Mở cửa hội nhập tài chính sẽ giúp các quốc gia có cơ hội tiếp cận, ứng dụng các công cụ tài chính tiên tiến từ các thị trường phát triển hơn vào các chương trình quản trị rủi ro. Sự tổn thất từ những rủi ro đặc trưng quốc gia từ trước đến giờ các quốc gia này phải gánh chịu có khả năng được giảm thiểu, dẫn đến những bất ổn trong nền kinh tế cũng giảm đi. Như vậy, có thể nói độ mở tài chính có thể làm giảm độ bất ổn tăng trưởng. Tuy nhiên, những dòng vốn cũng chảy vào nền kinh tế nhiều hơn và đổ vào tài trợ cho sự chuyên môn hóa xuất khẩu do cảm nhận được nguồn lợi từ xuất khẩu mang lại.
Điều này càng đẩy nhanh quá trình chuyên môn hóa này, và do đó càng nhanh khiến các ngành này dễ bị tổn thương hơn với các cú sốc bên ngoài cũng như sự truyền dẫn từ những quốc gia khác. Tác động thuần của độ mở tài chính đối với độ bất ổn tăng trưởng sẽ mang dấu dương, hoặc dấu âm, hoặc tác động không đáng kể cũng tùy thuộc vào việc tác động nào có thể lấn át được. Các tác động này cũng thay đổi qua các quốc gia tùy thuộc vào đặc trưng của các quốc gia đó.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Độ bất ổn tăng trưởng và độ mở thương mại Các bài nghiên cứu của Wacziag (2001), Irwin and Telvio (2002), Dollar and Kraay (2003), Alcala and Ciccone (2004) đã đưa ra kết luận rằng độ mở cửa thương mại có tác động tích cực một cách mạnh mẽ đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, Wacziag and Welch (2003) tập trung vào các nước thực hiện tiến trình tự do hóa thương mại và nhận thấy giao dịch thương mại cũng như tăng trưởng kinh tế đã gia tăng đáng kể và gần như ngay lập tức sau khi thực hiện tự do hóa.
Có những tranh luận chỉ ra rằng việc mở cửa thương mại sẽ giúp các quốc gia có khả năng đa dạng hóa nhằm hạn chế tác động từ các cú sốc đặc trưng của từng loại hàng hóa hoặc từng đối tác thương mại riêng biệt. Theo đó, nỗ lực đa dạng hóa hàng hóa xuất khẩu (thông qua đa dạng hóa cấu trúc sản xuất) và đa dạng hóa đối tác thương mại sẽ cho phép độ mở thương mại hoạt động như là cái đệm làm giảm tác động của các cú sốc cả trong và ngoài quốc gia. Cavallo (2007) nghiên cứu mẫu 77 quốc gia trong giai đoạn 1960-2000 nhằm đánh giá xem liệu mở cửa thương mại có làm giảm độ bất ổn tăng trưởng hay không và liệu tổn thất tiềm năng do rủi ro về tỷ giá thương mại (terms of trade) có làm suy yếu vai trò ổn định hóa của độ mở thương mại hay không. Kết quả cho thấy vai trò ổn định hóa áp đảo được hiệu ứng gia tăng độ bất ổn, cụ thể tại một quốc gia tỷ lệ giao dịch thương mại trên GDP tăng 25% sẽ dẫn đến sự sụt giảm 40% trong độ lệch chuẩn của tăng trưởng sản lượng.
Nghiên cứu của Rose (2002) chỉ ra những quốc gia có độ mở càng cao thì càng ít phải đối mặt với nguy cơ vỡ nợ từ những khoản nợ quốc tế. Ngoài ra, Martin and Rey (2006) cho thấy những quốc gia thị trường mới nổi sẽ có xu hướng gặp phải khủng hoảng tài chính nếu có mở cửa tài chính nhưng lại hạn chế mở cửa thương mại. 9 Tuy nhiên, vẫn có những tranh luận cho rằng độ mở thương mại cao sẽ làm gia tăng tổn thất cho quốc gia từ những rủi ro bên ngoài. Theo đó, việc mở cửa thương mại sẽ dẫn đến những mẫu hình chuyên môn hóa hơn về sản phẩm, và nếu chu kì kinh doanh chủ yếu bị ảnh hưởng các cú sốc bên ngoài ngành thì độ bất ổn tăng trưởng cũng gia tăng theo.
Cụ thể, quốc gia chuyên môn hóa về xuất khẩu sản phẩm sơ chế sẽ dễ tổn thương hơn với các cú sốc tỷ giá thương mại. Easterly và cộng sự (2000) không phủ nhận tác động tích cực độ mở đối với tăng trưởng mà chỉ ra rằng độ mở thương mại còn làm gia tăng tính dễ tổn thương hơn đối với các cú sốc, và dẫn đến gia tăng độ bất ổn tăng trưởng. Kose và cộng sự (2005) chỉ ra mối tương quan dương giữa độ bất ổn và độ mở thương mại, tuy nhiên mối quan hệ này không ảnh hưởng đến tăng trưởng trong dài hạn. Có thể nói mối quan hệ giữa độ mở thương mại và độ bất ổn tăng trưởng là chưa thật rõ ràng, đôi khi dẫn đến những kết quả thực nghiệm mâu thuẫn với nhận định ban đầu.
Cavallo và Frankel (2007), tập trung nhiều hơn về nhập khẩu, nhận định rằng quốc gia có độ mở càng cao thì càng dễ tổn thương với các cú sốc bên ngoài, và tạo ra những sự ngưng trệ đột ngột (sudden stops) dẫn đến ảnh hưởng đến uy tín thương mại của chính quốc gia này, những sự suy giảm thương mại về sau sẽ càng làm tổn thương nhiều hơn các quốc gia khác.