Chương 1: Giới thiệu. Nội dung của chương này nêu lên lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Chương này sẽ tổng quan các lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước đây trên thế giới, trong đó thanh khoản của chứng khoán có thể ảnh hưởng đến đầu tư thực của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương này sẽ trình bày chi tiết về dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích các biến nghiên cứu trong mô hình, các tính toán các biến và quy trình nghiên cứu của luận văn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Các kết quả thống kê mô tả, phân tích hồi quy và các nhận xét, bàn luận kèm theo được đề cập trong chương này.
Chương 5: Kết luận. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về thanh khoản và đầu tư 2.
Tổng quan về thanh khoản Tính thanh khoản có thể được định nghĩa là khả năng chuyển đổi liên tục của tài sản từ dạng này sang dạng khác (Ivanovic, 1997). Trong kinh tế học, thanh khoản là một khái niệm khá phức tạp. Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất của thanh khoản là khả năng chuyển đổi một tài sản (hay cổ phiếu) thành tiền mặt và ngược lại mà không làm ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng rất ít đến giá trị của tài sản (hay cổ phiếu) đó. Những tài sản có thể dễ dàng mua đi bán lại trên thị trường gọi là tài sản có tính thanh khoản.
Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi khối lượng giao dịch lớn. Tính thanh khoản là việc dễ dàng mua đi bán lại một chứng khoán (Amihud, Mendelson, and Pedersen 2005), điều này làm cho nó là một trong những yêu tố để nhà đầu tư có đưa ra quyết định đầu tư hay không. Thật vậy, nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm hơn khi bỏ vốn vào những tài sản có tính thanh khoản cao thay vì những tài sản kém thanh khoản vì đặc tính này sẽ giúp họ dễ dàng thu hồi lại tiền từ đầu tư của mình. Điều này rất quan trọng để nhà đầu tư thực hiện nhanh chóng các quyết định thu hồi vốn từ các danh mục đầu tư hiện hữu với chi phí thấp nhất.
Việc để bán một chứng khoán kém thanh khoản là rất khó, thậm chí có khi là không thể bán được trừ khi chấp nhận bán tháo với giá rất thấp. Một câu hỏi cơ bản được đặt ra là làm cách nào để đo lường được tính thanh khoản của chứng khoán trên thị trường. Đối với các thị trường vốn phát triển, một trong những thước đo tốt nhất và cổ điển nhất của tính thanh khoản là chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán (bid-ask spread) (Amihud, 2002). Người ta so sánh chênh lệch “bid-ask spreads” giữa các công ty khác nhau để thu thập thông tin về tính thanh khoản.
Nếu chênh lệch này nhỏ thì tài sản không những dễ bán mà tổng khối lượng 7 giao dịch thường rất lớn nên lệnh mua hay bán của một cá nhân thường không làm ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Tuy nhiên, thước đo chênh lệch giá mua – bán lại không có sẵn trong các thị trường mới nổi, do đó, để ước lượng tính thanh khoản trong thị trường này, nhiều học giả đã đưa ra những cách thức đo lường khác nhau (Siniša Bogdan, 2012). Trong đó, phương pháp đo lường phổ biến nhất là sử dụng các tỷ số khối lượng giao dịch (Trading Volume) và coi yếu tố này là một chỉ báo cho tính thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Lesmond, 2005). Amihud (2002) cho rằng khối lượng giao dịch trong quá khứ có thể cung cấp thông tin quan trọng về chứng khoán.
Chứng khoán có tỷ số khối lượng giao dịch càng lớn thì tính thanh khoản càng cao, đồng thời chúng cũng có chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán thấp hơn. Dưới đây là một số cách ước lượng tính thanh khoản được sử dụng tại các nền kinh tế đang phát triển. Theo Francisco Muñoz (2012), tính thanh khoản được ước lượng như sau: ∑𝑄𝑡=1 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑑 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠𝑡 𝐿𝑖𝑞𝑢𝑖𝑑𝑖𝑡𝑦𝑡 = 𝐷𝑄 × 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠 Trong đó 𝐷𝑄 là số ngày giao dịch trong Quý, 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑑 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠𝑡 là khối lượng cổ phiếu giao dịch trong Quý t, 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠 là tổng số cổ phiếu đang lưu hành của Công ty. Siniša Bogdan và cộng sự (2012) trình bày những cách thức đo lường tính thanh khoản bằng lượng giao dịch (Turnover - VK) được tính toán hằng ngày cho mỗi chứng khoán theo công thức: 𝑡 𝑉𝐾 = ∑ 𝑝𝑛.
𝑣𝑛 𝑛=1 Trong đó: 𝑉𝐾 bằng giá 𝑝𝑛 trong giao dịch 𝑛 vào thời gian 𝑡 nhân với số lượng chứng khoán giao dịch 𝑣𝑛 trong giao dịch 𝑛. Lượng giao dịch đôi khi còn được tính toán bằng tổng số lượng chứng khoán được giao dịch chia cho tổng lượng chứng khoán đã phát hành, thường được gọi là tổng lượng giao dịch (aggregate turnover 𝐴𝑇) 8 (Lo i Wang, 2000), trong đó 𝑣𝑖𝑡 là khối lượng giao dịch của chứng khoán 𝑖 tại thời điểm 𝑡 và 𝐼𝑖 là tổng khối lượng chứng khoán được phát hành của chứng khoán 𝑖. Giá trị chỉ số này càng cao thì tính thanh khoản càng lớn. 𝑣𝑖𝑡 𝐴𝑇𝑖𝑡 = 𝐼𝑖 Một thước đo tính thanh khoản khác của Amihud (2002) là ILQ – tỷ lệ hằng ngày của giá trị tuyệt đối tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên khối lượng giao dịch của nó, lấy trung bình trong một khoảng thời gian, nó thể hiện đo lường thô của tác động giá cả.
𝐷𝑖𝑦 𝐼𝐿𝑄𝑖𝑦 = 1⁄𝐷𝑖𝑦 ∑ |𝑅𝑖𝑑𝑦 |⁄𝑉𝐾𝑖𝑑𝑦 𝑡=1 Trong đó 𝑅𝑖𝑑𝑦 là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán 𝑖 vào ngày 𝑑 của năm 𝑦, 𝑉𝐾𝑖𝑑𝑦 là khối lượng giao dịch hằng ngày, 𝐷𝑖𝑦 là số ngày trong đó dữ liệu là sẵn có cho chứng khoán 𝑖 trong năm 𝑦. Đo lường tiếp theo là tỷ lệ thanh khoản được gọi là đo lường Amivest của thanh khoản hay tỷ lệ thanh khoản (LR) liên quan tới sự thay đổi đơn vị trong giá chứng khoán, tỷ lệ thanh khoản cao hơn ngụ ý thanh khoản thị trường lớn hơn (Amihud, Mendelson i Lauterbac, 1997). 100| 𝑝𝑖(𝑑−1) Trong đó 𝑉𝐾𝑖𝑑 là khối lượng giao dịch hằng ngày, 𝑅𝑖𝑑 là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán 𝑖 vào ngày 𝑑. Mục đích chính của ước lượng này là giải thích khối lượng giao dịch khi có 1% thay đổi trong giá chứng khoán hoặc so sánh khối lượng giao dịch với những thay đổi tuyệt đối trong giá chứng khoán tại một thời kỳ nào đó, nói cách khác là khối lượng chứng khoán cần thiết giao dịch để làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm 1%.
9 Ranaldo (2000) ước lượng tính thanh khoản bằng giá trị vốn hóa của chứng khoán và số lượng cổ phiếu mà công ty sở hữu. (𝐼 − 𝐼𝑐 ) Trong đó (𝐼 − 𝐼𝑐 ) đại diện cho sự khác biệt giữa tổng số cổ phiếu và số lượng cổ phiếu thuộc sở hữu của công ty, các biến còn lại tương tự như những công thức trên. Tổng quan về đầu tư Đầu tư là một trong ba quyết định quan trọng của công ty (quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối). Đầu tư nói chung là việc mua các tài sản hoặc hàng hóa với kỳ vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc được đánh giá cao hơn trong tương lai.
Trong kinh tế học, đầu tư là việc mua những hàng hóa dù không sử dụng ngày hôm nay nhưng sẽ được sử dụng trong tương lai để tạo ra của cải (xây dựng nhà máy để sản xuất hàng hóa, đầu tư bằng cách đi học đại học,…). Trong tài chính, đầu tư tài chính là việc mua các tài sản tiền tệ với ý tưởng rằng tài sản này sẽ tạo ra thu nhập trong tương lai hoặc được đánh giá cao hơn và có thể bán ở một mức giá cao hơn (mua cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản). Quyết định đầu tư có tác động trực tiếp lên cấu trúc tài sản của công ty. Đầu tư thực là số tiền được đầu tư vào tài sản cố định hữu hình và sản xuất như máy móc thiết bị, nó khác với đầu tư vào chứng khoán hay các công cụ tài chính khác.
Thông thường, những nghiên cứu về các công ty Mỹ đều sử dụng chi tiêu vốn (CAPEX - capital expenditure) làm thước đo cho đầu tư thực. Tuy nhiên, ở các thị trường mới nổi, dữ liệu chi tiêu vốn hầu như không được công bố. Vì vậy, trong các nghiên cứu khác ở những nước đang phát triển, các học giả sử dụng tài sản cố định để tính toán chi tiêu vốn, như Francisco Muñoz (2012), sử dụng đồng thời ba thước đo là tăng trưởng trong tổng tài sản, tăng trưởng trong tài sản cố định và hàng tồn kho để ước lượng đầu tư thực ở các quốc gia này. Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa thanh khoản và đầu tư Phần này tôi trình bày chi tiết hơn về các kết quả nghiên cứu khác nhau liên quan đến tính thanh khoản của chứng khoán và đầu tư của doanh nghiệp.
Sau khi xem xét và tổng hợp các nghiên cứu trước đây trên thế giới về tính thanh khoản của chứng khoán và đầu tư của doanh nghiệp, tôi chia thành ba kênh khác nhau dựa theo mối quan hệ giữa hai biến được nghiên cứu đó là: kênh trung lập – mối quan hệ trung lập, kênh đồng biến – mối quan hệ đồng biến và kênh nghịch biến – mối quan hệ nghịch biến. Mối quan hệ trung lập giữa tính thanh khoản của cổ phiếu và đầu tư của doanh nghiệp, vấn đế về chi phí đại diện và thông tin về giá chứng khoán Tôi sẽ bắt đầu với kênh trung lập. Đầu tiên, có các mô hình nghiên cứu dựa trên các vấn đề về chi phí đại diện và thông tin về giá chứng khoán. Như trong nghiên cứu của Maug (1998) và Edmans (2009) đề xuất, thanh khoản trong thị trường chứng khoán giúp cho sự tham gia quản lý các công việc trong công ty của các cổ đông chi phối (blockholders) dễ dàng hơn.
Theo đó, Maug (1998) dự báo rằng các nhà đầu tư có xu hướng tăng cường các hoạt động giám sát của mình trong các công ty có thanh khoản cao. Do đó, thanh khoản càng cao càng có khuynh hướng hỗ trợ tốt hơn cho việc quản lý công ty, và từ đó có thể ảnh hưởng đến đầu tư.