Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa chánh niệm và cảm nhận hạnh phúc ở thanh niên Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chánh niệm và cảm nhận hạnh phúc ở thanh niên Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ giữa chánh niệm và cảm nhận hạnh phúc ở thanh niên. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÁNH NIỆM VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC Ở THANH NIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về chánh niệm Chánh niệm vốn là thuật ngữ xuất phát từ triết lý Phật giáo phương Đông khoảng hơn 2500 năm trước đây. Trong Phật giáo, chánh niệm thường gắn với thiền, nên được gọi là thiền chánh niệm, là linh hồn của thiền định Phật giáo giúp người thực tập đạt được sự chú tâm, kiểm soát những dao động của thân tâm, đem lại sự an lạc, hạnh phúc.
Không bị giới hạn trong phạm vi tôn giáo hay vùng miền, chánh niệm được lan tỏa khắp nơi. Tại Mỹ và các nước phương Tây, phong trào nghiên cứu và thực tập thiền chánh niệm đến muộn hơn và bắt đầu nở rộ từ những năm giữa-cuối thế kỷ 20 cho đến nay. Người tiên phong trong phong trào này phải kể đến thiền sư Thích Nhất Hạnh [13], đức Đạt Lai Đạt Ma thứ 14 và một số những học trò của họ. Với giá trị ứng dụng cao, thiết thực, chánh niệm nhanh chóng được mọi người chấp nhận và được lan tỏa rộng rãi.
Chánh niệm được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: tâm lý trị liệu lâm sàng, giáo dục - đào tạo, y tế, lãnh đạo, v. Hiệu quả của nó đã được công nhận trong việc chăm sóc sức khỏe, cân bằng cảm xúc và hạnh phúc (Krygier và cộng sự, 2013) [145]; (Wu và cộng sự, 2019) [227]. Một đánh giá của Davidson & Kaszniak (2015) [80] chỉ ra rằng nghiên cứu về chánh niệm và thiền định từ cả góc độ khoa học và thực hành lâm sàng đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Chánh niệm đã trở thành một ngành công nghiệp tỷ đô không chỉ trong lĩnh vực đào tạo mà còn bao gồm các sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm [56].
Thực hành chánh niệm trở nên phổ biến, nhiều người đã áp dụng thiền chánh niệm trong đời sống hằng ngày đem lại cuộc sống an vui, hạnh phúc [114], [116], [117]; [125]. Chánh niệm trở thành một công cụ quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe tâm thần và thúc đẩy hạnh phúc tâm lý [63]; [97]; [138]; Lykins & Baer, 2009 [152]; Orzech và cộng sự, 2009) [171]; được áp dụng trong trường học [211], [174] ., trong tâm lý trị liệu [190]. Liệu pháp dựa trên chánh niệm là cơ sở cho những can thiệp được chấp nhận rộng rãi trong tâm lý học lâm sàng và đã trở thành phương pháp trị liệu phổ biến ở phương Tây sau nhận thức hành vi 7 (CBT) và phân tâm học [65]; (Baer, 2015) [51]. Các nghiên cứu đã đồng ý rằng thực hành chánh niệm đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và vấn đề xã hội.
Bởi lẽ, giữa cuộc sống bộn bề với công việc, mỗi người có thể trải nghiệm nhiều loại cảm xúc của vui, buồn, thương ghét, chán nản, lo âu…, thì chánh niệm là để họ không bị chi phối quá nhiều bởi những cảm xúc, tăng cường sức khỏe tâm thần và hạnh phúc, sống thật với chính mình ngay trong giây phút này [81]. Tuy nhiên, theo Davidson & Kaszniak (2015) [80], việc giải thích các kết quả nghiên cứu này là một thách thức khá lớn. Một phân tích tổng hợp của Phan-Le và cộng sự (2022) [176] chỉ ra rằng, chánh niệm được nghiên cứu trong 4 lĩnh vực khác nhau. Đó là: (1) Sức khỏe tâm thần và hạnh phúc: trọng tâm chính của nghiên cứu về chánh niệm trong chủ đề này bao gồm sức khỏe tâm thần, sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý và rối loạn tâm thần; (2) Thay đổi hành vi: tập trung nghiên cứu về tác động của chánh niệm đối với việc thay đổi hành vi và điều chỉnh cảm xúc; (3) Thần kinh/nhận thức: hướng này nghiên cứu chánh niệm từ khoa học thần kinh và nhận thức, tập trung vào tác động của chánh niệm lên não bộ và chức năng nhận thức của não bộ; (4) Yếu tố đạo đức của chánh niệm: hướng này tập trung vào những cách thực hành chánh niệm khác nhau, nguồn gốc truyền thống cũng như các giá trị cốt lõi khác nhau của chánh niệm.
Phân tích của tác giả về các hướng nghiên cứu này đã cho thấy, các định nghĩa mang tính thao tác hóa của chánh niệm không được trình bày rõ ràng trong các lĩnh vực này, do đó, cần có nghiên cứu học thuật về phân loại chánh niệm để tránh nhầm lẫn về ý nghĩa của khái niệm này. Một hướng nghiên cứu khác nữa về chánh niệm mang tính học thuật của các nhà tâm lý học là đo lường chánh niệm được chúng tôi bổ sung thành xu hướng thứ 5 dưới đây. (5) Đo lường khái niệm chánh niệm. Nỗ lực đo lường các khái niệm liên quan đời sống nội tâm của con người là đặc trưng của tâm lý học.
Nhờ các thang đo lường này mà các nhà nghiên cứu có thể nhận diện vấn đề ở các góc độ khác nhau, hiểu hơn về cấu trúc lý thuyết của khái niệm, góp phần đánh giá, so sánh, và nhiều ích lợi khác nữa. Dưới đây sẽ liệt kê một số thang đo lường chánh niệm được phát triển bởi các nhà tâm lý học và được sử dụng phổ biến 8 trong các nghiên cứu với độ tin cậy và độ hiệu lực đã được xác nhận bởi nhiều nghiên cứu với các quần thể nghiên cứu đa dạng. Thang nhận thức và chú ý chánh niệm (Mindful Attention and Awareness Scale - MAAS): Thang do Brown và Ryan (2003) [63] xây dựng, gồm 15 mục. Thang được dùng để đo lường sự chú tâm và nhận thức trong các trải nghiệm của cuộc sống hàng ngày về nhận thức, cảm xúc, thể lý và tổng quát.
Bảng kiểm kỹ năng chánh niệm Kentucky (Kentucky Inventory of Mindfulness Skills - KIMS): KIMS được phát triển bởi Baer và cộng sự (2004) [60], gồm 39 item. Nó được xây dựng để làm công cụ đánh giá hiệu quả của liệu pháp hành vi biện chứng của Linehan. KIMS đánh giá các kỹ năng liên quan đến những gì một người thực hiện trong khi thực hành chánh niệm và cách thức thực hiện. Các kỹ năng bao gồm quan sát (chú ý hoặc chú ý đến) trải nghiệm hiện tại, mô tả (ghi chú hoặc gọi tên những trải nghiệm quan sát được) bằng lời nói và tham gia (tập trung toàn bộ sự chú ý vào hoạt động hiện tại); không phán xét (chấp nhận, không đánh giá), nhất tâm (sử dụng sự chú ý không phân tán) và hiệu quả (sử dụng các phương tiện khéo léo).
Bảng hỏi chánh niệm năm thành phần (Five Facet Mindfulness Questionnaire – FFMQ): Công cụ này do Baer và cộng sự (2006) [49] phát triển dựa trên hiệu chỉnh bảng kiểm kỹ năng chánh niệm Kentucky. Bảng hỏi gồm 39 mệnh đề, đo lường 5 kỹ năng của chánh niệm là quan sát, mô tả, hành động có nhận thức, không phán xét các trải nghiệm nội tâm và không phản ứng với các trải nghiệm nội tâm. Bảng hỏi này được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu về chánh niệm với tiếp cận chánh niệm như một nét nhân cách. Thang chánh niệm Torronto (Toronto Mindfulness Scale - TMS): Thang chánh niệm Torronto được xây dựng bởi Lau và cộng sự (2006) [147], gồm 13 item.
Thang được dùng để đo trạng thái chánh niệm sau thiền tập với các trải nghiệm nhận thức. Bảng kiểm chánh niệm Freiburg (Freiburg Mindfulness Inventory - FMI): FMI được phát triển bởi Walach và cộng sự (2006) [222] từ khái niệm chánh niệm của Phật giáo. Nó gồm 30 mục, được thiết kế để sử dụng cho những cá nhân đã từng tiếp xúc với các thực hành thiền định để trau dồi chánh niệm. Thang chánh niệm nhận thức và cảm xúc đã sửa đổi (The Revised Cognitive and Affective Mindfulness Scale - CAMS-R): Thang được phát triển bởi Feldman và cộng sự (2007) [101] gồm 12 mục đã sửa đổi.
Nó đo lường chánh niệm trong 9 các hoạt động hàng ngày nói chung trên bốn thành tố được cho là cần thiết để đạt được trạng thái chánh niệm là chú ý, nhận thức, tập trung vào hiện tại và chấp nhận /không phán xét. Bảng hỏi chánh niệm Southampton (The Southampton Mindfulness Questionnaire - SMQ): Bảng hỏi chánh niệm Southampton do Chadwick và cộng sự (2008) [69] phát triển. Nó bao gồm 16 mục đánh giá mức độ mà các cá nhân phản ứng với những suy nghĩ và hình ảnh đau buồn bằng cách sử dụng bốn khía cạnh của chánh niệm (quan sát, không ác cảm, không phán xét, buông bỏ). Thang Chánh niệm Philadelphia (The Philadelphia Mindfulness Scale - PHLMS): PHLMS do Cardaciotto và cộng sự (2008) [67] phát triển, gồm 20 mục đánh giá các thành phần riêng biệt của nhận thức và sự chấp nhận tập trung vào hiện tại dựa trên cả các mẫu lâm sàng và phi lâm sàng mà không có bất kỳ trải nghiệm thiền định nào.
Thang chánh niệm liên cá nhân (the interpersonal mindfulness scale): Thang do Pratscher và cộng sự (2019) [177] xây dựng, gồm 27 item, được dùng để đo lường chánh niệm khi nó xảy ra trong tương tác giữa các cá nhân với 4 chiều cạnh: Sự hiện diện, Nhận thức về bản thân và những người khác, Chấp nhận không phán xét và Không phản ứng. Đây là những thang đo lường chánh niệm từ các góc độ khác nhau, đóng góp vào việc hiểu khái niệm cũng như cấu trúc của chánh niệm, là cơ sở để hình thành các lý thuyết khác nhau về chánh niệm. Có thể thấy rằng, hầu hết các thang đo đều được xây dựng gần đây (từ 2003 trở lại), và cho thấy tính đa dạng trong đo lường cũng là tính đa dạng trong cách hiểu chánh niệm. Có thang đo được xây dựng từ quan điểm Phật giáo, nhưng cũng có thang đo trên cơ sở học thuật về những trải nghiệm thực tế về một trạng thái, hay một kỹ năng của con người liên quan đến thiền định.
Một điểm nữa là ngoài xu hướng nghiên cứu thang đo lường chánh niệm, thì các hướng nghiên cứu khác chủ yếu tập trung vào vai trò, tác động của chánh niệm đến hành vi, sức khỏe thể chất và tinh thần, cảm xúc, trong đó có hạnh phúc và sẽ được đề cập đến một cách chi tiết hơn ở các mục sau. Tổng quan nghiên cứu về hạnh phúc và các yếu tố ảnh hƣởng đến cảm nhận hạnh phúc con ngƣời 1.