Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Cấu trúc sở hữu được các lí thuyết và nghiên cứu kinh tế chấp nhận rộng rãi như là một nhân tố quyết định lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu trong các lí thuyết về kinh doanh và quản trị về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu cổ điển của Jensen và Meckling (1976), Shleifer và Vishny (1997) cho rằng các cổ đông lớn có động lực lớn để giám sát nhà quản lí nhằm làm giảm vấn đề chi phí đại diện và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Nhưng nhìn ở khía cạnh khác thì các cổ đông lớn có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên giá trị doanh nghiệp bởi vì họ có thể theo đuổi lợi ích riêng của mình và đi ngược lại với lợi ích cổ đông thiểu số hay nhân viên và nhà quản lí (Shleifer và Vishny, 1988).
Do đó có rất nhiều tranh luận trong vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp. Tác giả sẽ trình bày tóm lược về các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về chủ đề phổ biến này. Sở hữu nhà nước và giá trị doanh nghiệp Shleifer và Vishny (1994) thì cho rằng chính phủ dưới vai trò là cổ đông sẽ sử dụng quyền biểu quyết để ảnh hưởng lên các quyết định kinh doanh do đó thường thì các nhà quản lí của các doanh nghiệp sở hữu nhà nước sẽ bị ảnh hưởng để theo đuổi mục tiêu chính trị hơn là mục tiêu tối đa lợi nhuận của doanh nghiệp. Sự can thiệp của yếu tố chính trị thường bị cho là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm của giá trị doanh nghiệp bởi nhiều lí do.
Đầu tiên, chính phủ sử dụng sức ảnh hưởng của mình lên công ty để cố gắng làm tối đa hóa các mức trợ cấp của xã hội hơn là lợi nhuận của công ty. Thứ hai, chính phủ có thể kiềm chế các chính sách tối đa hóa lợi nhuận khi những chính sách này gây tổn hại lên mức trợ cấp xã hội của chính phủ. Thứ ba, chính phủ có thể bị áp lực bởi các nhóm lợi ích như công đoàn trực tiếp dẫn tới việc ra quyết định của các công ty sở hữu nhà nước để nâng cao lợi ích của những nhóm lợi ích đó và gây ảnh hưởng xấu đến chính sách tối ưu hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Thứ tư, 6 các chính trị gia sẽ lạm dụng tín nhiệm để trục lợi từ các doanh nghiệp gây thất thoát đối với tài sản của nhà nước.
Ví dụ như, các doanh nghiệp sở hữu nhà nước sẽ sản xuất các sản phẩm hướng đến các mục tiêu chính trị hơn là hướng đến người tiêu dùng, hay là sẽ phân bổ nguồn lực sản xuất của công ty đến những vùng mang ý nghĩa chính trị hơn là những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi. Anderson, Lee, & Murrell (2000) nghiên cứu việc tư nhân hóa hàng loạt ở Mông Cổ thấy rằng các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước thì hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác. Họ lập luận rằng trong một môi trường thiếu các tổ chức rất cơ bản của nhà nước chủ nghĩa tư bản bị áp lực phải tập trung vào hiệu quả để cung cấp độ tin cậy cho các chương trình cải cách của chúng. Thomsen & Pedersen (2000) sử dụng sở hữu nhà nước là một trong nhiều biến độc lập, bao gồm sở hữu của ngân hàng, các công ty phi tài chính, gia đình, nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ, nhà đầu tư tổ chức nghiên cứu cho thị trường châu Âu.
Theo đó, tồn tại mối tương quan âm giữa sở hữu nhà nước với hiệu quả tài chính. Dữ liệu của nghiên cứu này được lấy trong giai đoạn 1990-1995 với 435 công ty lớn nhất ở 12 nước châu Âu. Mc Connell & Servaes (1990) nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu của nhà đầu tư cá nhân với giá trị công ty thấy rằng sở hữu có tương quan đồng biến với giá trị công ty. Dewenter & Malatesta (2001) nghiên cứu theo chu kỳ kinh doanh cho thấy giá trị của các công ty tư nhân cao hơn giá trị của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) do tạo ra lợi nhuận nhiều hơn, sử dụng nợ và lao động ít hơn trong quá trình sản xuất.
Tian (2001) nghiên cứu một mẫu 826 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Kết quả cho thấy kết quả hoạt động của các công ty tư nhân thì hơn hẳn so với doanh nghiệp cổ phần (DNCP). Giá trị công ty nhà nước nhìn chung là giảm và tăng lên sau khi cổ phần nhà nước giảm xuống dưới 45%. Mối quan hệ hình chữ U này giữa sở hữu nhà nước và giá trị doanh nghiệp được giải thích bởi tác động tổng hợp của bàn tay cổ đông chính phủ.
Các kết quả chung cho thấy sở hữu nhà nước có ảnh hưởng ngược chiều với giá trị doanh nghiệp. Tobin’s Q lồi so với sở hữu nhà nước. Hiệu quả của việc sở hữu nước ngoài không thể đoán trước và sở hữu tổ chức không thể cải thiện hiệu suất. Boardman & Vining (1989) so sánh hiệu quả kế toán của các doanh nghiệp sở hữu nhà nước, doanh nghiệp sở hữu tư nhân, và doanh nghiệp có một phần là sở hữu tư nhân trong hơn 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ và họ tìm thấy bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp có một phần sở hữu tư nhân có hiệu quả hoạt động đo lường bằng biến kế toán tệ hơn so với các doanh nghiệp sở hữu tư nhân.
Mặc dù sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp thường bị quy cho là gây ảnh hưởng tiêu cực lên giá trị doanh nghiệp nhưng nhìn ở góc độ khác thì sở hữu nhà nước có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Theo lí thuyết phụ thuộc nguồn lực thì doanh nghiệp thiết lập mối liên kết với các chính trị gia để đối phó với những rủi ro từ bên ngoài có nghĩa là sự thay đổi chính sách của chính phủ là một trong những nguồn chủ yếu của các rủi ro đến từ bên ngoài doanh nghiệp và khi đã có những mối quan hệ với chính phủ thông qua các hoạt động sở hữu góp vốn của nhà nước thì doanh nghiệp sẽ có lợi thế thông tin hơn so với các doanh nghiệp khác và từ đó đưa ra những biện pháp thích ứng phù hợp, hơn thế nữa dưới sự bảo đảm của chính phủ thì doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn tài trợ. Dewenter và Malatesla (2001) so sánh hiệu quả giữa những công ty tư nhân và các công ty nhà nước dựa trên dữ liệu từ năm 1975, 1985, và 1995 của tạp chí Fortune 500. Kết quả cho thấy rằng các công ty nhà nước sinh lợi ít hơn so với các công ty tư nhân, các công ty nhà nước này có xu hướng đòn bẩy nhiều hơn và sử dụng lao động nhiều hơn các công ty tư nhân.
8 Huang & Xiao (2012) đề xuất về tác động ngược chiều của tỉ lệ sở hữu của chính phủ lên giá trị doanh nghiệp và khuyến nghị rằng tỉ lệ sở hữu nhà nước càng thấp sẽ dẫn đến sự gia tăng khả năng sinh lợi và năng suất của doanh nghiệp. Zhang (2005) điều tra mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và giá trị doanh nghiệp trên một mẫu 5,284 quan sát của các doanh nghiệp trên hai sàn chứng khoán Trung Quốc từ năm 1991-2001. Tác giả thấy rằng sở hữu nhà nước và tổ chức có mối tương quan nghịch đáng kể đối với Tobin’s Q, và tồn tại mối tương quan lồi đáng kể giữa Q và sở hữu nhà nước, cũng như giữa Q và sở hữu tổ chức. Tác giả cũng thấy rằng sở hữu nước ngoài có mối tương quan cùng chiều có ý nghĩa với Tobin’s Q.
Borisova & đồng sự (2012) cho rằng sở hữu nhà nước có tác động tích cực lên hiệu quả doanh nghiệp vì sở hữu một số lợi thế nhất định ví dụ như nguồn tài nguyên và năng lượng nếu so sánh với các loại sở hữu khác. Chính phủ có thể dễ dàng huy động vốn, có thể dễ dàng đưa ra các chính sách thuận lợi đối với các doanh nghiệp đó. Từ đó họ cho rằng doanh nghiệp có tỉ lệ sở hữu nhà nước sẽ hoạt động được hiệu quả tốt hơn so với các doanh nghiệp khác. Sun & Tong (2003) nghiên cứu 634 doanh nghiệp niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Trung Quốc từ năm 1994 tới năm 1998 và tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả doanh nghiệp là không có ý nghĩa thống kê.
Thêm vào đó, khi xét các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồng Kông - Jia, Sun &Tong (2005) cho thấy tỉ lệ sở hữu nhà nước có mối tương quan ngược chiều đối với hiệu quả doanh nghiệp. Chen, Firth & Rui (2006) tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và chỉ số ROS đối với các doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc. Họ nghiên cứu mối quan hệ giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và hiệu quả doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực đặc biệt – nhân tố sở hữu nhà nước mang tính chiến lược. 9 Jia & đồng sự (2005) tìm thấy bằng chứng cho thấy tỉ lệ sở hữu nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với cả hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (ROA, ROS, ROE) và giá trị doanh nghiệp (Giá trị thị trường/ Giá trị sổ sách) trong khi Tian và Estrin (2005) cho thấy tỉ lệ sở hữu nhà nước có mối quan hệ thuận chiều với hiệu quả doanh nghiệp (ROA) và giá trị doanh nghiệp (Tobin’s Q).
Wei và cộng sự (2005) cùng Wei và Valera (2003) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước và giá trị doanh nghiệp (Tobin’s Q). Xu & Wang (1999) nghiên cứu mẫu 668 doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc trong thời kì 1993 – 1995 tìm thấy kết quả cho thấy hiệu quả doanh nghiệp đo lường bằng (ROE, ROA) và giá trị doanh nghiệp (MBR) có mối tương quan tích cực đối với tỉ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức và không có mối tương quan nào đến tỉ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước. Hovey & đồng sự (2003) điều tra mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp ở Trung Quốc. Hiệu quả hoạt động công ty được đo bằng Tobin’ Q.