Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1. Khái niệm và cấu trúc của hình thái kinh tế - xã hội 1. Phạm trù vật chất 1. Quan điểm trước Mác về vật chất và định nghĩa vật chất Các nhà triết học duy vật trước C.
Mác thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, nhưng họ lấy một vài dạng vật chất cơ bản của tự nhiên để giải thích thế giới vật chất. Trường phái/Nhà Cho rằng vật Thời kì Ghi Chú triết học chất là Trường phái Đất, nước, lửa Ấn Độ cổ đại Lokayata và không khí (Charovac) Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Trung Hoa cổ đại Thổ (thuyết Ngũ hành) Hy Lạp cổ đại Talét Nước Hêraclít Lửa Anaximenđờ Không khí Lơxíp & Nguyên tử Theo họ, nguyên tử là Đêmôcrít những hạt nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác nhau về chất, bất biến, tồn 4 tại vĩnh viễn và sự phong phú của chúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ của vạn vật. Nguyên tử vận động theo đường xoáy tròn: các nguyên tử nặng nhất xoáy ở giữa, càng nhẹ càng lên cao, cứ vậy tạo thành cơ chế hoạt động của thế giới Khoa học thực nghiệm ra đời, đặc biệt là sự phát triển mạng của cơ học, tạo ra nhiều máy móc công nghiệp ở giai đoạn Phục Hưng, cận đại đã ảnh hưởng lớn tới triết học. Chủ nghĩa duy vật cận đại mang tính chất siêu hình, máy móc, xem thế giới là một cỗ máy khổng lồ do nhiều bộ phận hợp lại, các bộ phận ấy không thay đổi về chất, nếu có thay đổi chỉ là về lượng.
Cũng vì tư duy siêu hình, nên quan điểm về vật chất thời kì này đồng nhất vật chất với khối lượng; giải thích sự vận động của thế giới vật chất trên nền tảng cơ học; tách rời vật chất khỏi vận động, không gian và thời gian; không đưa ra được sự khái quát triết học trong quan niệm về thế giới vật chất. Vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các phát minh trong khoa học tự nhiên đã bác bỏ quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cổ đại và chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình. Điều này vừa dẫn tới cuộc “khủng hoảng” vật lý học vừa dẫn tới sự bế tắc và sự hoài nghi của quan điểm về vật chất trong chủ nghĩa duy vật trước Mác, đồng thời một số nhà khoa học tự nhiên trượt sang chủ nghĩa tương đối rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm.Lênin đã khắc phục cuộc “khủng hoảng” vật lý và chỉ rõ: Cái bị “tiêu tan”, “mất đi” không phải là nguyên tử hay vật chất, mà là giới hạn hiểu biết của con người về vật chất. Vật lý học và các khoa học tự nhiên không bị khủng hoảng, mà đó là dấu hiệu của một cuộc cách mạng trong khoa học.
5 Những phát minh có giá trị to lớn của vật lý học đương thời không hề bác bỏ vật chất mà chỉ làm rõ hơn hiểu biết còn hạn chế của con người về vật chất. Đồng thời, ông khẳng định: “Tinh thần duy vật cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại sẽ chiến thắng tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình”1 Trước khi có cuộc khủng hoảng trong vật lý học cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Ph. Ăngghen đã thấy được cần phải xác định đúng cơ sở lý luận khoa học nền tảng của chủ nghĩa duy vật, và yêu cầu phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học với những dạng vật chất cụ thể nhất định đang tồn tại để có một quan niệm đúng đắn về vật chất. Ăngghen cũng chỉ rõ rằng các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất là tính vật chất - tính tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý thức.
Kế thừa tư tưởng thiên tài của Ph.Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất (trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán): “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”2. Phương thức, hình thức tồn tại của vật chất Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Ph. Ăngghen định nghĩa: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”3. Nguyên nhân của vận động nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng, vận động là sự tự thân vận động và vận động của vật chất được bảo toàn.
Vận động sinh ra 1 V.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr. Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 6 cùng với sự vật và chỉ mất đi khi sự vật mất đi. Sự vật cũ không mất đi hoàn toàn mà chuyển hóa thành sự vật khác và hình thức vận động khác. Bản chất của vận động chính là mọi sự thay đổi và mọi sự thay đổi được phân chia thành những hình thức vận động cơ bản của vật chất.
Các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh: hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở của những hình thức vận động thấp và bao hàm hình thức vận động thấp; hình thức vận động cao khác về chất so với hình thức vận động thấp, nên không thể quy hình thức vận động cao về hình thức vận động thấp. Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau, và có thể có hình thức vận động trung gian, là mắt khâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hóa lẫn nhau giữa hai hình thức vận động cao và thấp. Dựa trên sự tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức kết cấu vật chất, Ph. Ăngghen đã chia vận động của vật chất thành năm hình thức cơ bản: Vận động cơ học: sự thay đổi vị trí của vật thể trong không gian Vận động vật lý: các quá trình biến đổi của nhiệt, điện, trường, các hạt cơ bản,.
Vận động hóa học: sự biến đổi của các chất vô cơ, hữu cơ, sự phân giải và kết hợp của chúng,. Vận động sinh học: quá trình biến đổi của các cơ thể sống, trao đổi chất, quang hợp,. Vận động xã hội: sự biến đổi của các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa,. Trong sự vận động không ngừng của các dạng vật chất còn bao hàm trong đó sự đứng im tương đối.
Vận động của các dạng vật chất gắn với sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, cho nên vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối. Đứng im là khái niệm triết học phản ánh trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối quan hệ và điều kiện cụ thể, là hình thức biểu hiện sự tồn tại thực sự của các sự vật, hiện tượng và là điều kiện cho sự vận động, chuyển hóa của 7 các dạng vật chất. Sự vật, hiện tượng khác nhau, ở các điều kiện khác nhau, thì đứng im cũng khác nhau. Đứng im chỉ có tính tạm thời, chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng một thời điểm, chỉ xảy ra với một hình thức vận động nào đó, ở một lúc nào đó, chứ không phải cùng một lúc đối với mọi hình thức vận động.
Đứng im là một dạng của vận động, đứng im là vận động trong thăng bằng, trong đó sự vật chưa thay đổi căn bản về chất, nó còn là nó chứ chưa chuyển hóa thành cái khác. Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Vật thể có các thuộc tính cùng tồn tại và tách biệt, có kết cấu và quảng tính tạo thành không gian cho chúng, còn khi vật thể có các thuộc tính độ lâu của sự biến đổi, trình tự xuất hiện và mất đi thì sẽ tạo thành thời gian cho vật thể. Không gian và thời gian là hai thuộc tính cơ bản của vật chất, chúng không thể tách rời nhau và gắn bó chặt chẽ với vật chất và vận động. Không gian và thời gian cũng có những tính chất chung như vật chất và vận động: tính khách quan, tồn tại vĩnh viễn, vô tận và vô hạn; còn không gian và thời gian của một sự vật, hiện tượng cụ thể là có tận cùng và có hạn.
Không gian và thời gian có tính chất đơn nhất như: Không gian có ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) Thời gian có một hướng (quá khứ, hiện tại, tương lai) 1. Phạm trù ý thức 1. Nguồn gốc của ý thức Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm 8 Các nhà triết học duy tâm cho rằng, ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất. Ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” về “ý niệm”, hay “tự ý thức” lại “ý niệm tuyệt đối”.
Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan với những đại biểu như G. Mach lại tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, coi cảm giác là tồn tại duy nhất, “tiên thiên”, sản sinh ra thế giới vật chất. Ý thức của con người là do cảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quan niệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, biệt lập với thế giới bên ngoài Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình Các nhà duy vật siêu hình đã đồng nhất ý thức với vật chất. Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra.Các nhà duy vật tầm thường thế kỷ XVIII lại cho rằng: “Óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật”.
Một số nhà duy vật khác thuộc phái “Vật hoạt luận” (J. Hechken, Diderot) lại quan niệm ý thức là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất - từ giới vô sinh đến giới hữu sinh, mà cao nhất là con người.