Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rối loạn lo âu và trầm cảm đang trở thành những vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thống kê dịch tễ học tại Việt Nam trên mẫu đại diện quốc gia thuộc 10 tỉnh/thành phố chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em gặp phải các vấn đề tâm lý nghiêm trọng chiếm khoảng 12% (Weiss và cộng sự). Theo khảo sát của Nguyen, Dedding, Pham, Wright, và Bunders (2013), tỷ lệ mắc lo âu và trầm cảm ở học sinh cấp hai lần lượt là 22,80% và 41,10%. Số liệu từ Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam cũng ghi nhận 73,10% thanh thiếu niên từ 14 đến 25 tuổi từng trải qua cảm xúc buồn bã, 27,70% cảm thấy bất lực đến mức gián đoạn sinh hoạt thường nhật, và 21,30% từng mất niềm tin vào tương lai. Trầm cảm và lo âu kéo dài không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ miễn dịch, làm gia tăng nguy cơ loạn thần, lạm dụng chất và hành vi tự sát, mà còn tạo gánh nặng kinh tế - xã hội đáng kể.
Trong các yếu tố môi trường tác động đến sức khỏe tinh thần của con cái, phong cách nuôi dạy của cha mẹ đóng vai trò kép: vừa có thể là yếu tố bảo vệ, vừa có thể là yếu tố nguy cơ (Huberty, 2012). Tại Việt Nam, khi các hình thức trừng phạt thể xác dần bị bài trừ, sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ nổi lên như một phương thức xã hội hóa phổ biến nhằm định hướng hành vi của con cái theo chuẩn mực gia đình và xã hội. Tuy nhiên, dưới góc độ tâm lý học phát triển, sự quan tâm có điều kiện được xem là một dạng kiểm soát tâm lý (psychological control), tiềm ẩn nhiều hệ quả tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của trẻ. Phần lớn các nghiên cứu trước đây về chủ đề này được thực hiện tại các quốc gia phương Tây và tập trung vào từng lĩnh vực hẹp (học tập, thể thao, cảm xúc), để lại khoảng trống tri thức về tác động tổng thể trong bối cảnh văn hóa Á Đông - nơi đề cao thẩm quyền của cha mẹ và chữ hiếu.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mối liên hệ và khả năng dự báo của sự quan tâm có điều kiện từ người mẹ đối với mức độ lo âu và trầm cảm ở con cái; đồng thời xem xét sự khác biệt về nhận thức sự quan tâm có điều kiện theo các biến số nhân khẩu học.
- Câu hỏi nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
- (1) Có sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ nhận thức sự quan tâm có điều kiện của mẹ không?
- (2) Có sự khác biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn về sự quan tâm có điều kiện của mẹ không?
- (3) Sự quan tâm có điều kiện của mẹ có mối liên hệ như thế nào với trình độ học vấn của mẹ?
- (4) Sự quan tâm có điều kiện của mẹ có mối liên hệ như thế nào với khoảng cách tuổi tác giữa mẹ và con?
- (5) Sự quan tâm có điều kiện của mẹ có mối liên hệ như thế nào với mức độ trầm cảm và lo âu ở con cái?
- (6) Sự quan tâm có điều kiện của mẹ có khả năng dự báo như thế nào đối với mức độ trầm cảm và lo âu ở con cái?
- Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối liên hệ giữa sự quan tâm có điều kiện của người mẹ và các triệu chứng lo âu, trầm cảm của con cái; sự khác biệt theo giới tính, nơi cư trú, học vấn của mẹ và khoảng cách tuổi.
- Khách thể và phạm vi: 416 sinh viên đại học chính quy tại Hà Nội, được lựa chọn theo tiêu chí trước năm 17 tuổi chưa từng sống xa mẹ liên tục trên một năm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên sự kết hợp giữa hai trường phái tâm lý học lớn:
- Lý thuyết Nhân vị Trọng tâm (Person-Centered Theory của Carl Rogers): Khái niệm "sự nhìn nhận tích cực có điều kiện" (conditional positive regard) phản ánh việc cha mẹ chỉ trao gửi tình cảm, sự chấp nhận và tôn trọng khi con cái thỏa mãn những kỳ vọng đặt ra. Rogers chỉ ra rằng điều kiện hóa tình cảm tạo ra sự xung đột nội tâm sâu sắc giữa trải nghiệm tự thân đích thực và nhu cầu được chấp nhận, từ đó kìm hãm khuynh hướng hiện thực hóa (actualizing tendency) và dẫn đến rối nhiễu tinh thần.
- Lý thuyết Tự quyết (Self-Determination Theory - SDT của Edward Deci & Richard Ryan; phát triển bởi Assor, Roth và cộng sự): Phân tích bản chất của sự quan tâm có điều kiện như một cơ chế kiểm soát tâm lý xâm phạm nhu cầu tự chủ (autonomy), nhu cầu gắn kết (relatedness) và nhu cầu năng lực (competence).
- Phân loại hai chiều kích của sự quan tâm có điều kiện:
- Sự quan tâm tích cực có điều kiện (Parental Conditional Positive Regard - PCPR): Cha mẹ gia tăng sự ấm áp, quan tâm và coi trọng khi con cái thực hiện đúng kỳ vọng. Cơ chế này thúc đẩy quá trình phóng nội (introjection), tạo cảm giác ép buộc từ bên trong, lòng tự trọng mong manh và nỗi sợ thất bại thường trực.
- Sự quan tâm tiêu cực có điều kiện (Parental Conditional Negative Regard - PCNR): Cha mẹ rút lại tình thương, giảm bớt sự chăm sóc và chấp nhận khi con cái không đạt kỳ vọng. Cách ứng xử này tương tự kỹ thuật rút lui tình cảm (love withdrawal), trực tiếp gây cảm giác bị khước từ, oán giận và tổn thương tâm lý.
Phương pháp nghiên cứu và công cụ thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát định lượng qua bảng hỏi tự báo cáo (self-report questionnaire) trên mẫu thuận tiện gồm $N = 416$ sinh viên. Bộ công cụ gồm các thang đo chuẩn hóa:
| Tên công cụ / Thang đo |
Tác giả gốc |
Đặc điểm cấu trúc và thang điểm |
Độ tin cậy ($\alpha$) |
| Thang đo Nhận thức của Con cái về Sự Quan tâm có Điều kiện của Mẹ |
Tác giả tự xây dựng dựa trên khung lý thuyết của Assor et al. |
Đo lường chung không phân theo lĩnh vực hẹp; gồm 2 phân thang: Quan tâm tích cực CĐK và Quan tâm tiêu cực CĐK. |
Đạt chuẩn độ tin cậy và phân tích nhân tố xác nhận (CFA). |
| Thang đo Rối loạn Lo âu Lan tỏa 7 mục (GAD-7) |
Spitzer et al. |
7 item đánh giá mức độ biểu hiện triệu chứng lo âu trong 2 tuần gần nhất; thang Likert 4 điểm (1 = Hoàn toàn không đến 4 = Gần như mọi ngày). |
$\alpha = 0{,}86$ |
| Bảng Câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân 9 mục (PHQ-9) |
Kroenke, Spitzer, & Williams (2001) |
9 item đo lường mức độ biểu hiện triệu chứng trầm cảm trong 2 tuần gần nhất; thang Likert 4 điểm (1 = Hoàn toàn không đến 4 = Gần như mọi ngày). |
$\alpha = 0{,}85$ |
Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Dữ liệu được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 23.0 và STATA/SE 14.0 với các quy trình phân tích:
- Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, trung bình $M$, độ lệch chuẩn $SD$, trung vị $Mdn$, độ lệch Skewness, độ nhọn Kurtosis).
- Kiểm định phi tham số Mann-Whitney U (do dữ liệu về sự quan tâm có điều kiện phân phối không chuẩn) để so sánh giữa các nhóm giới tính và khu vực sinh sống.
- Phân tích tương quan tuyến tính Pearson ($r$) để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến số tâm lý và nhân khẩu.
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (phương pháp Enter) nhằm kiểm tra mô hình dự báo mức độ lo âu và trầm cảm từ hai biến số quan tâm tích cực và tiêu cực có điều kiện của mẹ.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng gia tăng rối loạn cảm xúc ở giới trẻ Việt Nam và thực tiễn nuôi dạy con phụ thuộc vào thành tích, kỳ vọng gia đình. Chương này xác định rõ mục đích nghiên cứu, 6 câu hỏi nghiên cứu, 6 giả thuyết tương ứng, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như tiêu chí lựa chọn khách thể thực nghiệm.
Chương 1: Khái niệm và phân loại sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hành vi nuôi dạy con có điều kiện:
- Phân biệt rõ ràng nội hàm khái niệm "nhìn nhận tích cực có điều kiện" trong tâm lý học nhân văn với thuật ngữ "quan tâm tích cực/tiêu cực có điều kiện" trong lý thuyết tự quyết (nhấn mạnh chữ "tích cực/tiêu cực" mang nghĩa có mặt/tăng thêm hoặc vắng mặt/rút bớt, không mang nghĩa đánh giá đạo đức tốt/xấu).
- Phân tích ưu và nhược điểm của các phương pháp đo lường: chỉ ra rằng việc đo lường theo từng lĩnh vực riêng lẻ (học tập, thể thao...) dễ bỏ sót bức tranh tổng thể, từ đó luận giải tính ưu việt của cách tiếp cận đo lường nhận thức chung (general perception) xuyên lĩnh vực.
- Tổng quan các công trình thực nghiệm quốc tế và khu vực về hệ quả tâm lý của sự quan tâm có điều kiện đối với lòng tự trọng, tính cầu toàn thiếu thích ứng, cơ chế phòng vệ dồn nén cảm xúc và chất lượng mối quan hệ cha mẹ - con cái.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực nghiệm:
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu ($N = 416$): Độ tuổi trung bình của khách thể là $M = 20{,}36$ tuổi; cơ cấu giới tính gồm 70 nam (16,80%) và 346 nữ (83,20%). Mẫu được kiểm soát nghiêm ngặt về điều kiện sống cùng mẹ trước 17 tuổi.
- Quy trình chuẩn hóa công cụ: Trình bày chi tiết cấu trúc bảng hỏi, bảng mã hóa điểm số Likert cho từng thang đo (GAD-7, PHQ-9 và Thang đo quan tâm có điều kiện), cũng như các kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha ($\alpha > 0{,}80$) và phân tích nhân tố xác nhận (CFA).
- Quy trình xử lý số liệu: Quy định các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết phi tham số và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trình bày hệ thống số liệu thực nghiệm thông qua các bảng biểu thống kê mô tả, kiểm định so sánh nhóm và mô hình tương quan - hồi quy:
| Biến số |
Thống kê mô tả & Kiểm định so sánh |
Kết quả tương quan & Hồi quy |
| Quan tâm tích cực có điều kiện |
- Trung bình mẫu chung: $M = 49{,}90$ (khoảng điểm: 12–73). - Nam ($Mdn = 53$) cao hơn Nữ ($Mdn = 51$) có ý nghĩa thống kê ($U = 9720{,}5; p < 0{,}05$). - Không có sự khác biệt giữa Thành thị và Nông thôn ($U = 21576{,}5$). |
- Tương quan thuận chiều mạnh với Lo âu và Trầm cảm. - Trong mô hình hồi quy lo âu: Đóng vai trò dự báo mạnh hơn so với quan tâm tiêu cực CĐK. |
| Quan tâm tiêu cực có điều kiện |
- Trung bình mẫu chung: $M = 34{,}xx$. - Nam ($Mdn = 38$) cao hơn Nữ ($Mdn = 33$) có ý nghĩa thống kê ($U = 10131{,}5; p < 0{,}05$). - Không có sự khác biệt giữa Thành thị và Nông thôn ($U = 21109{,}5$). |
- Tương quan thuận chiều mạnh với Lo âu và Trầm cảm. - Trong mô hình hồi quy trầm cảm: Đóng vai trò dự báo mạnh hơn so với quan tâm tích cực CĐK. |
| Các biến nhân khẩu học khác |
- Trình độ học vấn của người mẹ: Không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$) với cả hai dạng quan tâm có điều kiện. - Khoảng cách tuổi mẹ - con: Không có tương quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$). |
- Không đóng vai trò điều tiết rõ rệt lên mức độ áp dụng sự quan tâm có điều kiện của mẹ trong mẫu nghiên cứu. |
- Mô hình hồi quy tuyến tính dự báo Lo âu:
Phương trình hồi quy có ý nghĩa thống kê cao: $F(2, 413) = 81{,}28$ ($p < 0{,}001$), hệ số xác định $R^2 = 0{,}28$ ($R^2_{\text{hiệu chỉnh}} = 0{,}28$). Cả hai dạng quan tâm có điều kiện giải thích được 28% phương sai của mức độ lo âu ở con cái.
- Mô hình hồi quy tuyến tính dự báo Trầm cảm:
Phương trình hồi quy đạt độ tin cậy thống kê: $F(2, 413) = 53{,}21$ ($p < 0{,}001$), hệ số xác định $R^2 = 0{,}20$ ($R^2_{\text{hiệu chỉnh}} = 0{,}20$). Cả hai dạng quan tâm có điều kiện giải thích được 20% phương sai của mức độ trầm cảm ở con cái.
Mô hình Hồi quy Tuyến tính Đa biến (Enter)
Chương 4: Thảo luận kết quả
Tác giả đào sâu các cơ chế tâm lý xã hội đằng sau các phát hiện thực nghiệm:
- Khác biệt giới tính: Nam giới cảm nhận mức độ quan tâm có điều kiện cao hơn nữ giới. Điều này được lý giải bởi định kiến giới và áp lực văn hóa gia đình truyền thống tại Việt Nam, nơi cha mẹ thường đặt kỳ vọng công danh sự nghiệp lớn hơn lên con trai, khiến mức độ gắn kèm điều kiện vào tình thương trở nên rõ rệt hơn.
- Tính độc lập với nơi cư trú, học vấn và tuổi tác: Việc không tìm thấy mối liên hệ giữa sự quan tâm có điều kiện với khu vực sống (thành thị - nông thôn), trình độ học vấn của mẹ hay khoảng cách tuổi cho thấy xu hướng kiểm soát tâm lý thông qua tình cảm là một hiện tượng phổ quát trong hành vi nuôi dạy con, không bị triệt tiêu đơn thuần bởi mức độ học vấn hay môi trường sống.
- Phân hóa cơ chế dự báo lo âu và trầm cảm: Sự quan tâm tích cực có điều kiện dự báo lo âu mạnh hơn do nó duy trì trạng thái thôi thúc nội tâm và sự bấp bênh của giá trị bản thân (con cái luôn phải nỗ lực để duy trì tình cảm). Ngược lại, sự quan tâm tiêu cực có điều kiện trực tiếp dẫn đến cảm giác bị khước từ và tổn thương nhu cầu gắn kết, do đó dự báo trầm cảm mạnh hơn khi con cái trải qua thất bại.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính từ số liệu thực nghiệm
- Khẳng định tác động tiêu cực của sự quan tâm có điều kiện: Cả hai dạng quan tâm tích cực và tiêu cực có điều kiện từ người mẹ đều có tương quan thuận chiều chặt chẽ với các triệu chứng lo âu và trầm cảm của con cái.
- Khả năng giải thích của mô hình: Hai chiều kích quan tâm có điều kiện giải thích được 28% sự biến thiên của mức độ lo âu ($F(2, 413) = 81{,}28$) và 20% sự biến thiên của mức độ trầm cảm ($F(2, 413) = 53{,}21$).
- Phát hiện về sự phân hóa tác động:
- Quan tâm tích cực có điều kiện có trọng số dự báo mức độ lo âu lớn hơn so với quan tâm tiêu cực có điều kiện.
- Quan tâm tiêu cực có điều kiện có trọng số dự báo mức độ trầm cảm lớn hơn so với quan tâm tích cực có điều kiện.
- Đặc điểm nhân khẩu học: Sinh viên nam có nhận thức về mức độ quan tâm có điều kiện (cả tích cực và tiêu cực) của mẹ cao hơn sinh viên nữ một cách có ý nghĩa thống kê; trong khi khu vực sinh sống, học vấn của mẹ và khoảng cách tuổi mẹ - con không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa.
Giải pháp và kiến nghị nuôi dạy con
Từ các phát hiện nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị thực tiễn:
- Thay đổi nhận thức của cha mẹ: Cha mẹ cần ngừng việc sử dụng tình yêu thương và sự ấm áp như một công cụ thưởng - phạt hoặc đòn bẩy điều khiển hành vi của con cái. Sự chấp nhận cần được duy trì vô điều kiện, tách bạch rõ ràng giữa tình cảm dành cho con và sự đánh giá đối với hành vi cụ thể.
- Chuyển dịch sang phong cách ủng hộ tính tự chủ (Autonomy-Supportive Parenting): Cha mẹ nên khuyến khích con cái tham gia vào các quyết định liên quan đến bản thân, lắng nghe và tôn trọng cảm xúc của con, đồng thời giải thích rõ ràng lý do hợp lý đằng sau các yêu cầu thay vì áp đặt tâm lý hoặc rút lui tình cảm.
Đóng góp học thuật
- Đóng góp về phương pháp luận: Khóa luận đã xây dựng và kiểm định thành công thang đo nhận thức sự quan tâm có điều kiện tổng quát (xuyên lĩnh vực), khắc phục hạn chế chia cắt theo từng lĩnh vực hẹp của các thang đo phương Tây trước đó.
- Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn: Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp tại Việt Nam, khẳng định tính phổ quát xuyên văn hóa của Lý thuyết Tự quyết và Lý thuyết Nhân vị Trọng tâm, đồng thời phản biện quan điểm cho rằng kiểm soát tâm lý có thể vô hại trong các nền văn hóa tập thể phương Đông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu chính:
- Hạn chế về mẫu nghiên cứu: Mẫu khảo sát là mẫu thuận tiện với tỷ lệ nữ giới chiếm đa số (83,20% so với 16,80% nam giới), chỉ giới hạn ở nhóm sinh viên đại học tại một khu vực địa lý, chưa đại diện đầy đủ cho toàn bộ thanh thiếu niên.
- Giới hạn nguồn thu thập dữ liệu: Nghiên cứu chỉ đánh giá từ góc nhìn chủ quan của con cái đối với người mẹ; chưa kết hợp khảo sát nhận thức từ phía cha mẹ hoặc đánh giá chéo từ người cha và các bên thứ ba (thầy cô, người thân).
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu hoàn toàn dựa trên bảng hỏi tự báo cáo định lượng, chưa kết hợp các phương pháp phỏng vấn sâu hoặc quan sát hành vi thực tế (chẳng hạn như phân tích ảnh hưởng của kỹ thuật kỷ luật "tạm ngưng" - time out).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu trên các nhóm đối tượng học sinh phổ thông và thanh niên ngoài trường đại học, cân bằng cơ cấu giới tính.
- Mở rộng khảo sát vai trò của người cha và so sánh sự khác biệt giữa sự quan tâm có điều kiện của cha và của mẹ.
- Kết hợp nghiên cứu định tính và quan sát thực nghiệm để định danh các hành vi cụ thể của cha mẹ tạo ra cảm nhận có điều kiện ở con cái, làm cơ sở xây dựng thang đo theo tiếp cận hành vi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Tâm lý học, Công tác xã hội, Giáo dục học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách vận dụng lý thuyết Carl Rogers và Lý thuyết Tự quyết (SDT) vào nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
- Người thực hiện đề tài về mối quan hệ gia đình và sức khỏe tâm thần: Có thể kế thừa khung lý thuyết, quy trình thiết kế bảng hỏi và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê phi tham số kết hợp mô hình hồi quy đa biến.
- Chuyên viên tham vấn tâm lý học đường và trị liệu gia đình: Phần thảo luận và phân tích cơ chế lo âu/trầm cảm là cơ sở tham chiếu hữu ích trong việc đánh giá nguồn gốc sang chấn tâm lý xuất phát từ phong cách nuôi dạy kiểm soát của gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Sự quan tâm tích cực có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện khác nhau như thế nào?
Sự quan tâm tích cực có điều kiện (PCPR) là việc người mẹ gia tăng sự yêu thương, ấm áp và coi trọng khi con cái đạt được kỳ vọng; điều này tạo ra áp lực nội tâm buộc con cái phải duy trì thành tích. Ngược lại, sự quan tâm tiêu cực có điều kiện (PCNR) là việc người mẹ rút bớt tình cảm, lạnh nhạt hoặc xa lánh khi con cái không đạt kỳ vọng, trực tiếp gây ra cảm giác bị chối bỏ và tổn thương tinh thần.
2. Mẫu nghiên cứu của khóa luận được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nào?
Khách thể gồm 416 sinh viên đại học ($M = 20{,}36$ tuổi; 16,80% nam và 83,20% nữ). Tiêu chuẩn chọn mẫu bắt buộc là sinh viên trước năm 17 tuổi chưa từng sống xa mẹ liên tục trên một năm, nhằm đảm bảo trải nghiệm tương tác với mẹ được liên tục và hạn chế các biến số nhiễu từ việc chia cách gia đình.
3. Khả năng dự báo của sự quan tâm có điều kiện đối với mức độ lo âu và trầm cảm ra sao?
Mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy sự quan tâm có điều kiện giải thích được 28% biến thiên của mức độ lo âu ($F(2, 413) = 81{,}28$) và 20% biến thiên của mức độ trầm cảm ($F(2, 413) = 53{,}21$). Trong đó, sự quan tâm tích cực có điều kiện dự báo mạnh hơn đối với triệu chứng lo âu, còn sự quan tâm tiêu cực có điều kiện dự báo mạnh hơn đối với triệu chứng trầm cảm.
4. Giữa sinh viên nam và nữ có sự khác biệt như thế nào về nhận thức sự quan tâm có điều kiện của mẹ?
Kiểm định Mann-Whitney chỉ ra rằng sinh viên nam cảm nhận nhận được sự quan tâm có điều kiện từ mẹ cao hơn sinh viên nữ có ý nghĩa thống kê ở cả hai dạng tích cực ($Mdn_{\text{nam}} = 53$ so với $Mdn_{\text{nữ}} = 51, U = 9720{,}5$) và tiêu cực ($Mdn_{\text{nam}} = 38$ so với $Mdn_{\text{nữ}} = 33, U = 10131{,}5$).
5. Trình độ học vấn của mẹ, khu vực sinh sống và khoảng cách tuổi có ảnh hưởng đến sự quan tâm có điều kiện không?
Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ quan tâm có điều kiện giữa khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời không có tương quan tuyến tính có ý nghĩa giữa sự quan tâm có điều kiện với trình độ học vấn của mẹ hay khoảng cách tuổi tác giữa hai mẹ con.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã chứng minh thực nghiệm mối liên hệ thuận chiều chặt chẽ giữa sự quan tâm có điều kiện của người mẹ với mức độ gia tăng các triệu chứng lo âu và trầm cảm ở con cái. Nghiên cứu chỉ ra tính chất nguy cơ của cả hai hình thức quan tâm tích cực và tiêu cực có điều kiện, trong đó quan tâm tích cực có điều kiện dự báo mạnh hơn mức độ lo âu, còn quan tâm tiêu cực có điều kiện dự báo mạnh hơn mức độ trầm cảm. Kết quả này củng cố tính ứng dụng của Lý thuyết Tự quyết và Lý thuyết Nhân vị Trọng tâm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, đồng thời đưa ra cơ sở khoa học để khuyến nghị các bậc phụ huynh chuyển đổi sang phong cách nuôi dạy tôn trọng sự tự chủ và trao gửi tình thương vô điều kiện.