Chương 1. Khái niệm và phân loại sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ Nhiều nghiên cứu và lý thuyết đã chỉ ra rằng tình yêu thương mà cha mẹ dành cho con cái là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý xã hội của mỗi cá nhân. Mặc dù vậy, một số nhà tâm lý học cho rằng, nghiên cứu về tình yêu thương của cha mẹ không nên chỉ quan đến việc cha mẹ có yêu thương con hay không mà còn phải quan tâm tới cách mà cha mẹ trao đi tình yêu thương ấy (Kohn, 2006). Trong khi một số cha mẹ cố gắng trao cho con tình yêu thương một cách vô điều kiện, nhiều cha mẹ vẫn sử dụng tình yêu thương của mình như một công cụ để kiểm soát con cái và do đó để lại những hệ quả tiêu cực đối với tâm lý của chúng cũng như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Ảnh hưởng của tính điều kiện trong tình yêu thương của cha mẹ đối với sự lành mạnh tâm lý của con cái lần đầu tiên được hệ thống hóa trong lý thuyết về sự phát triển nhân cách theo tiếp cận Nhân vị Trọng tâm (Rogers, 1951, 1959). Trong lý thuyết này, sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ được mô tả thông qua khái niệm sự nhìn nhận tích cực có điều kiện. Theo đó, cha mẹ nhìn nhận con cái một cách tích cực có điều kiện là khi cha mẹ chỉ bày tỏ những thái độ tích cực như chấp nhận, coi trọng, quan tâm, hay yêu thương, đối với con cái khi nào chúng đáp ứng được những kỳ vọng, mong muốn, hay yêu cầu của cha mẹ. Do mỗi đứa trẻ đều có nhu cầu nhận được tình yêu thương của cha mẹ, sự nhìn nhận tích cực có điều kiện có thể buộc chúng phải cảm nhận, suy nghĩ, và hành xử theo những cách mà cha mẹ mong muốn để được đổi lại sự chấp nhận từ cha mẹ.
Khi những hành vi được kỳ vọng này đối nghịch lại với những mong muốn hay trải nghiệm thật sự, con cái có thể sẽ phải đối mặt với những xung đột nội tâm, từ đó dẫn tới những rối nhiễu tinh thần. Trái lại, sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện của cha mẹ dành cho con cái sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khuynh hướng hiện thực hóa, hay khuynh hướng phát triển tiến tới việc tối ưu hóa các tiềm năng và chức năng tâm sinh lý ở con cái, từ đó dẫn tới sự lành mạnh tâm lý. Thực tế, khái niệm sự nhìn nhận tích cực có điều kiện và vô điều kiện đã được đề cập trước hết trong mối quan hệ trị liệu giữa nhà trị liệu Nhân vị Trọng tâm và thân chủ (Bozarth, 2013). Mặc dù đã có nhiều bằng chứng về ảnh hưởng của sự nhìn nhận tích cực có điều kiện và vô điều kiện đối với hiệu quả trị liệu tâm lý, cho tới gần đây vẫn chưa có nhiều nghiên cứu được tiền hành nhằm tìm hiểu về hai thái độ này trong 6 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 các mối quan hệ liên cá nhân khác, đặc biệt là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, như lý thuyết Nhân vị Trọng tâm đã đề xuất.
Một nghiên cứu được tiến hành bởi Assor và c. (2004) đã cung cấp những bằng chứng đầu tiên ủng hộ cho quan điểm của Carl Rogers và mở đường cho việc tìm hiểu về ảnh hưởng của sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ đối với sự lành mạnh tâm lý của con cái. Trong nghiên cứu này, dựa trên lý thuyết Tự quyết (Ryan & Deci, 2017), các tác giả đã tiếp cận sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ với tư cách là một cách thức xã hội hóa mà trong đó cha mẹ tỏ ra yêu thương và chấp nhận con cái khi chúng tuân theo những kỳ vọng của cha mẹ; và rút lại những thái độ đó khi con cái không đáp ứng. Kết quả nghiên cứu ban đầu của Assor và c.
(2004) cho thấy sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ có thể thúc đẩy con cái thực hiện những hành vi được kỳ vọng nhưng đồng thời cũng gây ra những hệ quả tiêu cực như con cái cảm thấy bị ép buộc thay vì được tự chủ đối với hành vi của mình, cảm thấy tiêu cực về bản thân, khó cảm thấy hài lòng dù thành công, và trở nên hổ thẹn mỗi khi thất bại. Hơn nữa, sự quan tâm có điều kiện còn khiến cho con cái cảm thấy bị ruồng bỏ và hình thành thái độ oán giận đối với cha mẹ. Mặc dù các kết quả trên đây đã làm sáng tỏ phần nào những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với con cái của sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ, một trong những hạn chế của nghiên cứu này và một số nghiên cứu ban đầu khác là chưa phân biệt hai chiều hướng tác động của sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ (Roth và c. Cụ thể, chiều hướng thứ nhất, hay sự quan tâm tích cực có điều kiện, là việc cha mẹ tỏ ra yêu thương, coi trọng, và tình cảm hơn với con cái khi con cái hành động phù hợp với kỳ vọng của cha mẹ.
Trong khi đó, ở chiều hướng ngược lại, hay là sự quan tâm tiêu cực có điều kiện, cha mẹ tỏ ra bớt yêu thương, bớt coi trọng, và bớt tình cảm với con cái khi chúng không đáp ứng những mong muốn của cha mẹ. Chiều hướng thứ hai này có sự tương đồng với cách nuôi dạy con rút lại tình yêu thương thuộc cấu trúc kiểm soát tâm lý (Barber, 1996). Tuy nhiên, sự quan tâm tiêu cực có điều kiện không bao gồm những yếu tố khác của sự kiểm soát tâm lý như gây cảm giác tội lỗi hay làm cho hổ thẹn. Nhằm phân biệt giữa sự quan tâm có điều kiện và sự kiểm soát tâm lý, cũng như dựa trên lý thuyết và các bằng chứng gián tiếp cho thấy ảnh hưởng khác biệt của hai cách quan tâm có điều kiện, Roth và c.
(2009) kiến nghị cần nghiên cứu sự quan tâm có điều kiện của cha mẹ thông qua hai cách thức cụ thể này. Phân tích nhân tố khám phá trong nghiên cứu của các tác giả này cho thấy các item đo lường sự quan tâm tích cực 7 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện tải lên hai nhân tố khác nhau và hai cấu trúc này có tương quan thuận với nhau ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo lĩnh vực. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng báo cáo sự khác biệt về tác động của sự quan tâm tích cực có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện. Trong khi sự quan tâm tích cực có điều kiện thúc đẩy quá trình nội hóa và từ đó tạo ra sự thúc ép con cái phải đáp ứng các kỳ vọng của cha mẹ thì sự quan tâm tiêu cực có điều kiện lại làm xuất hiện cảm giác oán giận cha mẹ ở con cái và biểu hiện ra bằng việc không thực hiện các hành vi mà cha mẹ mong muốn.
Các kết quả này xác nhận quan điểm cho rằng cần nghiên cứu sự quan tâm có điều kiện thông qua hai chiều cạnh này. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều nghiên cứu trước đây vẫn được tiến hành theo hướng tìm hiểu tác động của sự quan tâm có điều kiện như một cấu trúc đơn nhất thay vì có sự phân biệt giữa sự quan tâm tích cực có điều kiện và sự quan tâm tiêu cực có điều kiện. Một điểm đáng lưu ý đó là hai từ “tích cực” và “tiêu cực” trong các khái niệm này không được sử dụng với ý nghĩa là “tốt” hay “xấu” mà được hiểu theo nghĩa “có mặt/xuất hiện/tăng lên” hay “không có mặt/biến mất/giảm đi”. Việc lưu ý về ý nghĩa của hai từ này là cần thiết bởi nó giúp phân biệt hai khái niệm này với khái niệm sự nhìn nhận tích cực có điều kiện và sự nhìn nhận tiêu cực có điều kiện được sử dụng trong lý thuyết về quá trình phát triển nhân cách theo tiếp cận Nhân vị Trọng tâm.
Trong lý thuyết này, “tích cực” và “tiêu cực” được sử dụng với ý nghĩa “tốt” và “xấu”. Sự nhìn nhận tích cực là khái niệm được dùng để chỉ những thái độ như quan tâm, chấp nhận, tôn trọng, yêu thương, ấm áp.