PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Việt Nam cũng đang n lực đổi mới và phát triển không ngừng, từ một đất nƣớc có nền tảng nông nghiệp trở thành nƣớc có nền công nghiệp phát triển, hòa nhập với nền v n minh Thế giới. Để có đƣợc sự phát triển đó, chúng ta phải học tập nhiều hơn, lao động n ng suất hơn và không ngừng cố gắng hết sức để hoàn thiện bản thân. Điều này vô tình kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong đời sống của ngƣời Việt nói chung, đặc biệt là thế hệ sinh viên Việt Nam nói riêng.
Đáng lo ngại hơn cả là những nguy cơ về rối nhiễu tâm lý nhƣ lo âu, trầm cảm, ám ảnh hay các chứng hoang tƣởng, tâm thần phân liệt, động kinh. Trong đó, trầm cảm là một hiện tƣợng bệnh lý xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống hiện nay. Trầm cảm gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Hàng n m nhà nƣớc phải trích một phần không nhỏ ngân quỹ để nghiên cứu, điều trị, và tuyên truyền về phòng ngừa về trầm cảm, trầm cảm với các triệu chứng của nó ảnh hƣởng trực tiếp đến tất cả các mặt sinh hoạt, tác động lên cá nhân của chủ thể có bệnh nhƣ giảm khí sắc, mất hứng thú lao động, học tập, dòng tƣ duy hoạt động chậm chạp hay kém hiệu quả, hành vi, thái độ không phù hợp với cả bản thân bệnh nhân và các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra.
Trầm cảm không chỉ ảnh hƣởng lên bản thân ngƣời bệnh mà còn ảnh hƣởng đến những ngƣời xung quanh bởi vì những cảm giác, tâm trạng buồn chán đơn thuần nó không đủ mạnh để bộc lộ hết lên trên bề mặt của nhân cách, hành vi của ngƣời bị bệnh. Thế nhƣng, hiện nay trầm cảm vẫn là một khái niệm vẫn còn khá mơ hồ chƣa đƣợc nhìn nhận một cách khoa học, chúng ta có thói quen nghĩ rằng những cảm giác buồn của ngƣời khác sẽ nhanh chóng qua mau, tệ hơn chúng ta có xu hƣớng tin rằng đấy là một tâm trạng, cảm giác khá bình thƣờng, ai chả thế. Nhiều lúc ta không thể tin rằng vì sao một cá nhân bề ngoài khỏe mạnh, hoạt bát, công việc ổn định, có gia đình nhƣ vậy lại có thể mắc bệnh trầm cảm. Ở xã hội hiện đại con ngƣời ít có thời gian dành riêng cho những 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhu cầu riêng tƣ của mình, cho gia đình mình điều này đúng đặc biệt với những ngƣời ở độ tuổi trƣởng thành.
Theo báo cáo trong hội thảo Vì ngày sức khỏe (04/2017), Viện sức khỏe Tâm thần Quốc gia đã công bố số liệu thống kê: Trong n m 2016, Viện sức khỏe tâm thần khám và điều trị ngoại trú 18.402 lƣợt bệnh nhân trầm cảm (chiếm 30%), điều trị nội trú 446 lƣợt bệnh nhân (chiếm 13,0%); Trung bình m i ngày có 50 bệnh nhân đến khám và điều trị về trầm cảm; ở những bệnh nhân từ 45 tuổi bị trầm cảm có 36,5% bệnh nhân có ý tƣởng hoặc hành vi tự sát. Bệnh nhân trầm cảm đang có xu hƣớng gia t ng, tập trung nhiều ở lứa tuổi: ngƣời trẻ (16 - 27 tuổi) và ngƣời già (60 - 65 tuổi). Tác giả Trần Kim Trang (2012) trong nghiên cứu Stress u và tr c ở sinh vi n y kh , phân tích trên 483 sinh viên n m thứ 2 khoa y và r ng hàm mặt Đại học y dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang đánh giá DASS-21, cũng đã cho thấy kết quả đáng lo ngại rằng: tỉ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lƣợt là 71,4%; 28,8%; 22,4%, đa số ở mức độ nh và vừa; 52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên. Chúng tôi nhận thấy nguyên nhân chung đƣợc các tác giả nói đến là do đặc điểm tâm lý của sinh viên khi vừa phải trang bị một vốn kiến thức khổng lồ để hình thành nên những kỹ n ng nghề nghiệp, lại vừa phải tu dƣỡng đạo đức, lo lắng về kinh tế, tìm kiếm công việc tƣơng lai và đặc biệt là các mối quan hệ ngày càng phức tạp và đa dạng hơn.
Những yếu tố đó vô hình chung đã tạo nên một áp lực không nhỏ tác động mạnh đến sức khỏe tinh thần và tâm sinh lý của sinh viên. Trên thực tế, nhiều ngƣời thƣờng chọn cách đối xử khắc nghiệt với bản thân, thƣờng xuyên tự chỉ trích và tự cô lập để né tránh cảm giác thất bại, khiến cuộc sống của họ trở nên kém hạnh phúc. Để đối phó với những cảm xúc tiêu cực đó, chúng ta cần phải đƣợc giải phóng, vƣợt qua sự đau khổ, điều chỉnh nhận thức - hành vi - cảm xúc để có thể tự yêu thƣơng bản thân và thích ứng tốt với môi trƣờng tự nhiên - xã hội luôn biến đổi. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó, chủ đề về Lòng tự trắc ẩn – Self-c p ssi n” công bố bởi Kristin D.
Neff từ n m 2003, đã đƣợc các nhà Tâm lý học Tích cực trên toàn Thế Giới đặc biệt quan tâm và hàng tr m nghiên cứu khoa học về chủ đề này đƣợc công bố trên toàn Thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu khoa học về lòng tự trắc ẩn còn rất thiếu vắng. Chủ đề này mới đƣợc quan tâm nghiên cứu vào n m 2017 trên tạp chí Tâm lý học bởi tác giả Trần Thu Hƣơng và Trần Minh Điệp với nghiên cứu Đánh giá òng tự trắc ẩn: Một nghi n cứu định ượng ở sinh vi n Việt Nam”. Tiếp theo đó là 2 khóa luận tốt nghiệp n m 2017: Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ hạnh phúc củ sinh vi n Việt N ” của tác giả Trần Minh Điệp và Mối i n hệ giữ òng tự trắc ẩn và ức độ stress củ sinh vi n Việt N ” của tác giả Lê Trần Vân Anh cũng đã đóng góp vào bức tranh nghiên cứu về Lòng trắc ẩn tại Việt Nam.
Theo nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và trầm cảm Rumination and worry as mediators of the relationship between self-compassion and depression and anxiety , công bố bởi tác giả Filip Raes: Các tác động trung gian của tin đồn và lo lắng đã đƣợc kiểm tra trong mối quan hệ giữa tự trắc ẩn và trầm cảm, lo lắng. 271 sinh viên đại học đã hoàn thành các phƣơng pháp tự trắc ẩn, trầm cảm và lo lắng. Kết quả cho thấy, đối với mối quan hệ giữa tự trắc ẩn và trầm cảm, chỉ có tin đồn nổi lên nhƣ một trung gian hòa giải đáng kể. Các kết quả hiện tại cho thấy lòng trắc ẩn có tác dụng đối với trầm cảm và lo lắng là thông qua các tác động tích cực của nó đối với suy nghĩ lặp đi lặp lại không hiệu quả.
Mặc dù có nhiều bằng chứng khoa học đã chứng minh lòng tự trắc ẩn có vai trò tích cực trong việc giúp con ngƣời gia t ng hạnh phúc cá nhân, đối mặt và vƣợt qua các nguy cơ mắc các bệnh về sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên ở Việt Nam khái niêm về lòng tự trắc ẩn chƣa thực sự đƣợc quan tâm và nghiên cứu và đặc biệt khi đặt trong mối quan hệ với sức khỏe tâm thần trong đó có trầm cảm là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngƣời có lòng tự trắc ẩn có xu hƣớng ít phán xét bản thân, ít bị lo âu, trầm cảm…hơn. Nhƣ vậy đây là một vấn đề đáng làm, có ý nghĩa thực tiễn và giá trị cao trong xã hội hiện này và giúp 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho sinh viên có thêm thông tin và nhận thức về lòng tự trắc ẩn và những ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực của lòng tự trắc ẩn đến sức khỏe tâm thần, đặc biệt là trầm cảm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trường Đại Học, Cao Đẳng tại tp.
Hà Nội” và trên cơ sở đó góp phần đƣa ra những gợi ý, kiến nghị giúp phòng ngừa và điều trị trầm cảm ở sinh viên. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm tiếp nhận những cơ sở lý luận về lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm từ những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Thông qua việc tìm hiểu về thực trạng lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên một số trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp. Hà Nội từ đó phân tích mối quan hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm, những yếu tố ảnh hƣởng đến lòng tự trắc ẩn và trầm cảm.
Đồng thời, đƣa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao lòng tự trắc ẩn và làm giảm mức độ trầm cảm ở sinh viên. Đối tƣợng nghiên cứu Lòng tự trắc ẩn và Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn với mức độ trầm cảm của sinh viên các trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp. Khách thể nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 501 khách thể là sinh viên một số trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.
Nghiên cứu lý luận • Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài để làm rõ: • Khái niệm lòng tự trắc ẩn (định nghĩa, các thành tố) • Khái niệm trầm cảm (định nghĩa, đặc điểm). • Sự tƣơng quan giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp. Nghiên cứu thực tiễn • Khảo sát thực trạng mức độ tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp. Hà Nội; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Phân tích mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên các trƣờng Đại Học, Cao Đẳng tại tp.
Hà Nội; • Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao mức độ tự trắc ẩn và giảm mức độ trầm cảm của sinh viên. Câu hỏi nghiên cứu: • Sinh viên ở một số trƣờng Cao Đẳng – Đại Học tại thành phố Hà Nội có lòng tự trắc ẩn và trầm cảm ở mức độ nhƣ thế nào? • Có sự khác biệt về lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm giữa các sinh viên thuộc khối ngành/quê quán/giới tính/tình trạng kinh tế hay không? • Có sự tƣơng quan giữa lòng tự trắc ẩn và mức độ trầm cảm của sinh viên hay không? 7.