Lời mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị có liên quan nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin EPS trên BCTC 123doc 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu trong nƣớc Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay về thông tin EPS chủ yếu là ở mức độ hoàn thiện phương pháp xử lý kế toán đối với chỉ tiêu này trên BCTC chứ hầu như chưa có các nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin này trên BCTC dựa trên những phản ứng của giá cổ phiếu khi thông tin EPS được công bố. Trần Xuân Nam (2010) trong nghiên cứu về những vấn đề cần hoàn thiện với báo cáo thường niên, trong đó có chỉ tiêu EPS, đã đưa ra một số các biện pháp nhằm hoàn thiện chỉ tiêu này trên BCTC: - EPS cần phải được trình bày ít nhất 5 năm để NĐT có thể so sánh được. - Nếu số cổ phiếu phổ thông hay cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành tăng như là kết quả của việc phát hành cổ phiếu thưởng trả cổ tức bằng cổ phiếu, thì việc tính EPS cơ bản và pha loãng cho tất cả các kỳ cần phải được điều chỉnh hồi tố tương ứng. - Khi DN có các khoản trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền và lựa chọn quyền mua cổ phiếu hay các công cụ tài chính mà nó có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông, thì cần trình bày cả chỉ tiêu EPS pha loãng (Diluted EPS) để NĐT ước tính EPS trong những năm tới.
- Chế độ kế toán của Việt Nam đưa ra cánh tính EPS chưa hợp lý. Đó là lãi dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản quỹ khen thưởng phúc lợi không thuộc cổ đông. Nhiều công ty trích quỹ khen thưởng phúc lợi từ 5 - 15% lợi nhuận sau thuế, do vậy EPS của các công ty này bị sai lệch tương ứng. Mã Văn Giáp (2013) thực hiện nghiên cứu nhằm hoàn thiện phương pháp xử lý kế toán lãi trên cổ phiếu cho các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán 123doc 6 Việt Nam.
Bằng cách khảo sát ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán; các công ty cổ phần niêm yết; các nhà đầu tư chứng khoán nhằm đánh giá công tác xử lý kế toán lãi trên cổ phiếu tại các công ty cổ phần niêm yết hiện nay, những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng chuẩn mực kế toán số 30, cũng như sự đầy đủ và thích hợp của thông tin này trên BCTC, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chỉ tiêu này trên BCTC: - Cần phải hoàn thiện khung pháp lý kế toán lãi trên cổ phiếu cho các công ty cổ phần niêm yết. Các giải pháp cụ thể bao gồm hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán số 30 và các chuẩn mực kế toán khác có liên quan, đồng thời cũng phải hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán. - Cần hoàn thiện quy trình quản lý, giám sát về công bố thông tin liên quan đến lãi trên cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết. - Cần hoàn thiện quy trình tạo lập và công bố thông tin liên quan đến lãi trên cổ phiếu đối với các công ty cổ phần niêm yết.
Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả vẫn chưa lượng hóa được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xử lý kế toán lãi trên cổ phiếu tại các công ty cổ phần niêm yết, cũng như chưa đánh giá được mức độ thiếu hoàn chỉnh của các văn bản pháp lý kế toán về lãi trên cổ phiếu sẽ ảnh hưởng mới mức độ như thế nào đến thực tiễn công tác xử lý kế toán tại các doanh nghiệp này và cũng như đến quyết định của nhà đầu tư khi sử dụng thông tin chưa hoàn chỉnh được cung cấp bởi các công ty cổ phần. Đồng thời, tác giả cũng mới chỉ tiến hành khảo sát trên một số công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà chưa thực hiện rộng rãi cho các loại hình công ty cổ phần nói chung.2 Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã cũng có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của lãi trên cổ phiếu đến giá cổ phiếu sau khi thông tin lợi nhuận công bố. Đây là vấn đề không mới và đã được các nhà nghiên cứu thực hiện từ rất lâu. Brown (1968) thực hiện cuộc nghiên cứu nhằm đánh giá tính hữu ích của thông tin lợi nhuận đến quyết định của người đầu tư trên thị trường chứng khoán New York.
Brown tiến hành khảo sát trong vòng 18 tháng, 12 tháng trước và 6 tháng sau sự kiện lợi nhuận trên báo cáo thu nhập được công bố. Kết quả cho thấy thông tin lợi nhuận trên báo cáo thu nhập là hữu ích và nó có mối liên hệ với giá cổ phiếu. Thị trường cũng đã dự đoán được thông tin bất lợi và có lợi của lợi nhuận và có những điều chỉnh về giá cổ phiếu phù hợp. Hầu hết trong các trường hợp giá đã điều chỉnh theo sự thay đổi của lợi nhuận (85 – 90%) trước tháng mà thông tin được công bố.
Tuy đã lượng hóa được mức độ thay đổi của giá cổ phiếu khi thông tin lợi nhuận được công bố nhưng nghiên cứu của R. Brown chỉ mới xem xét ảnh hưởng của thông tin lợi nhuận trên BCTC năm mà chưa xem xét tới ảnh hưởng của thông tin lợi nhuận trên BCTC quý tới giá cổ phiếu. Fama et al. (1969) thực hiện cuộc nghiên cứu nhằm xem xét những điều chỉnh của giá cổ phiếu khi các thông tin mới được công bố trên thị trường New York.
Thông tin mới ở đây là thông tin về lợi nhuận và thông tin về các khoản cổ tức tiềm năng sẽ được chi trả. Khác với nghiên cứu của R. Brown (1968) chỉ nghiên cứu trong khoảng thời gian 18 tháng, 12 tháng và 6 tháng sau khi thông tin lợi nhuận được công bố, Fama tiến hành khảo sát trong khoảng thời gian khá dài là 59 tháng, 29 tháng trước và 30 tháng sau khi các thông tin mới trên BCTC được công bố. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu có mối liên hệ đối với sự tăng lên của cổ tức và lợi nhuận, có những bằng chứng cho thấy thị trường đã nhận biết được điều này và có những sự điều chỉnh phù hợp đối với sự tăng lên của cổ tức và lợi nhuận.
123doc 8 Tuy nhiên, giá cổ phiếu sẽ có phản ứng mạnh hơn đối với các khoản cổ tức tương lai sẽ được chia. Dựa vào cổ tức và lợi nhuận người ta có thể dự báo được xu hướng biến động của giá cổ phiếu. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy giá cổ phiếu sẽ có phản ứng một cách nhanh chóng đối với thông tin mới về lợi nhuận và cổ tức, tức là các thông tin mới này sẽ phản ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu. Do đó, nghiên cứu hoàn toàn ủng hộ giả thiết thị trường hiệu quả.
Mazhar Hussain & Arshad Hasan (2010) tiến hành điều tra xem liệu kết quả tài chính được trình bày trên BCTC được công bố có tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Pakistan hay không. Tác giả khảo sát trong 10 ngày, 5 ngày trước và 5 ngày sau sự kiện kết quả tài chính được công bố của 30 doanh nghiệp niêm yết. Kết quả cho thấy có những bằng chứng chứng minh rằng thông tin này có tác động đến giá cổ phiếu. Tuy nhiên, các nhà đầu tư vẫn có thể kiếm được tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên sau ngày công bố sự kiện.
Trong một vài tình huống cho thấy có sự rò rỉ thông tin về kết quả tài chính trước khi sự kiện được công bố nên các các nhà đầu tư cũng có thể kiếm được khoản tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên này. Vì vậy, nghiên cứu của Mazhar Hussain & Arshad Hasan không ủng hộ giả thiết thị trường hiệu quả, nghĩa là thông tin về kết quả tài chính không được phản ánh hết vào giá cổ phiếu. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả trên cũng mới chỉ ra được những xu hướng biến động của giá chứng khoán khi các kết quả tài chính trên BCTC được công bố chứ chưa lượng hóa được mức độ thay đổi của giá chứng khoán như thế nào. Đồng thời, do tác chỉ giả khảo sát trong 10 ngày, 5 ngày trước và 5 ngày sau sự kiện kết quả tài chính được công bố, đây là khoảng thời gian khá ngắn nên khó có thể nhận biết được hết xu hướng biến động của giá cổ phiếu như thế nào.
Chenxi Wang & King Phet (2012) xác định ảnh hưởng của ngày thông báo lợi nhuận đến giá cổ phiếu tại các quốc gia Bắc Âu để tìm ra quy luật thay đổi của giá 123doc 9 chứng khoán. Bằng việc thu thập dữ liệu của 40 mã cổ phiếu lớn và có tính thanh khoản tốt nhất trên thị trường chứng khoán Bắc Âu OMX từ năm 2010 đến 2012 và tiến hành khảo sát trong vòng 17 ngày, 8 ngày trước và 8 ngày sau sự kiện lợi nhuận được công bố. Kết quả cho thấy thị trường phản ứng một cách chậm với thông tin lợi nhuận được công bố, nghĩa là các thông tin này có ảnh hưởng yếu tới giá cổ phiếu. Nghiên cứu cũng cho thấy các thông tin lợi nhuận được công bố không có ảnh hưởng đến thị trường hiệu quả dạng trung bình, do đó các thông tin này sẽ không phản ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu và các nhà đầu tư có thể kiếm được khoản tỷ suất sinh lợi ngẫu nhiên từ việc sử dụng thông tin lợi nhuận.
Do nghiên chỉ khảo sát 40 mã chứng khoán lớn và có tính thanh khoản tốt nhất trên thị trường chứng khoán Bắc Âu OMX nên kết quả nghiên cứu sẽ có thể không đại diện cho các cổ phiếu trên OMX bởi giá cổ phiếu của mỗi công ty có quy mô khác nhau sẽ có những phản ứng khác nhau đối với thông tin lợi nhuận được công bố. Nghiên cứu cũng chưa lượng hóa được mức độ thay đổi của giá chứng khoán do chỉ nghiên cứu phản ứng của giá cổ phiếu đối với thông tin lợi nhuận trên BCTC. 123doc 10 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay về thông tin EPS chủ yếu là ở mức độ hoàn thiện phương pháp xử lý kế toán đối với chỉ tiêu này trên BCTC như nghiên cứu của Trần Xuân Nam (2010), Mã Văn Giáp (2013)… chứ hầu như chưa có các nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin này trên BCTC dựa trên những phản ứng của giá cổ phiếu khi thông tin EPS được công bố.