lời mở đầu, danh mục các bảng, hình vẽ, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng nhƣ sau: 8 Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về mở rộng tín dụng ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh thành phố Hà Nội 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất hiện từ thế kỷ thứ 16 với nguồn gốc là từ crédit trong tiếng Pháp, credito trong tiếng Ý hay creditum trong tiếng Latin đều có nghĩa gốc ban đầu là sự tin tƣởng, tín nhiệm. Dần dần cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngày nay “tín dụng” đƣợc định nghĩa là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sử hữu sang ngƣời sử dụng và sau một thời gian nhất định đƣợc quay trở lại ngƣời sở hữu một lƣợng lớn hơn ban đầu.
Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Phân loại tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có thể đƣợc phân loại dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Việc hình thành các tiêu thức để sắp xếp các khoản tín dụng có cùng đặc điểm vào một nhóm là cơ sở để ngân hàng thiết kế các danh mục tín dụng hiệu quả, là cơ sở để định hƣớng tín dụng, quản lý và đánh giá rủi ro (Nguyễn Văn Tiến, 2017) a/ Căn cứ vào mục đích vay vốn Căn cứ vào mục đích vay vốn, tín dụng đƣợc chia thành các loại tín dụng tiêu dùng và tín dụng sản xuất kinh doanh.
Tín dụng tiêu dùng đƣợc chia thành tín dụng bất động sản cho nhu cầu cƣ trú và tín dụng tiêu dùng cho nhu cầu sinh hoạt. Tín dụng sản xuất kinh doanh đƣợc phân chia theo các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế gồm tín dụng nông lâm ngƣ nghiệp, tín dụng công nghiệp, và tín dụng dịch vụ. 10 b/ Căn cứ vào thời hạn Căn cứ vào thời hạn, tín dụng đƣợc chia thành tín dụng ngắn hạn (đến 1 năm), trung hạn (trên 1 năm đến 5 năm), và dài hạn (từ 5 năm trở lên). Tín dụng ngắn hạn đƣợc cấp chủ yếu nhằm bổ sung sự thiếu hụt tạm tời vốn lƣu động của các doanh nghiệp, nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân và hộ gia đình.
Ngƣợc lại, tín dụng trung và dài hạn chủ yếu nhằm phục vụ mua sắm tài sản cố định, nâng cấp công nghệ để xây dựng và mở rộng sản xuất kinh doanh hay phục vụ nhu cầu bất động sản cƣ trú của cá nhân và hộ gia đình. c/ Căn cứ vào bảo đảm Căn cứ vào bảo đảm tín dụng, tín dụng đƣợc chia thành tín dụng có bảo đảm và không có bảo đảm. Tín dụng có bảo đảm bao gồm các hình thức bảo đảm là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh của bên thứ ba. d/ Căn cứ vào chủ thể vay vốn Căn cứ vào chủ thể vay vốn, tín dụng đƣợc chia thành tín dụng cho doanh nghiệp phi tài chính, tổ chức tài chính, và tín dụng cá nhân, hộ gia đình.
e/ Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay Căn cứ vào phƣơng thức hoàn trả nợ vay, tín dụng đƣợc chia thành tín dụng hoàn trả một lần và tín dụng hoàn trả nhiều lần. Tín dụng hoàn trả một lần là khoản tín dụng mà khách chỉ hoàn trả cả gốc và lãi một lần khi dến hạn. Tín dụng hoàn trả nhiều lần là khoản tín dụng mà gốc và lãi đƣợc thanh toán cho ngân hàng theo các thời điểm đƣợc quy định trong hợp đồng tín dụng. f/ Căn cứ vào hình thái giá trị Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng, tín dụng có thể tồn tại dƣới dạng bằng tiền, tài sản, hoặc uy tín (bảo lãnh ngân hàng).
g/ Căn cứ vào xuất xứ Căn cứ vào xuất xứ, tín dụng tồn tại dƣới dạng tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp. Trong tín dụng trực tiếp, ngân hàng giải ngân cho khách hàng vay vốn và ngƣợc lại, khách hàng trả nợ trực tiếp cho ngân hàng. Trong tín dụng gián tiếp, thông qua trung gian, ngân hàng cấp tín dụng và thu nợ với khách hàng. h/ Căn cứ vào loại tiền tệ Căn cứ vào loại tiền tệ, tín dụng đƣợc chia thành tín dụng nội tệ và tín dụng ngoại tệ.
11 i/ Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng Căn cứ vào nghiệp vụ, tín dụng đƣợc chia thành cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Ngoài ra, còn có các tiêu chí khác để ngân hàng phân loại tín dụng nhƣ căn cứ vào phƣơng thức cấp tín dụng, chất lƣợng tín dụng, và lãi suất… 1. Đặc điểm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có năm đặc điểm quan trọng: tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin của ngân hàng vào khách hàng, của khách hàng vào phƣơng án, dự án vay vốn; tín dụng là sự chuyển nhƣợng vốn có thời hạn; tín dụng đòi hỏi khách hàng phải hoàn trả ngân hàng cả gốc và lãi; tín dụng ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro; và khách hàng phải cam kết hoàn trả ngân hàng vô điều kiện. Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Cơ sở lòng tin đƣợc xem xét trên cả hai phía là ngân hàng và khách hàng. Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng có lòng tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng đẩy đủ (cả gốc và lãi) và đúng hạn theo nhƣ thỏa thuận. Ở chiều ngƣợc lại, khách hàng tin tƣởng vào bản thân sẽ sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả, mang lại đƣợc nguồn tiền trong tƣơng lai để trả nợ ngân hàng. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhƣợng có thời hạn.
Thời hạn cho vay phụ thuộc vào thời hạn huy động vốn của ngân hàng và đặc điểm luân chuyển vốn hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đặc điểm có thời hạn (tính hoàn trả) ở đây phản ánh đặc điểm hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ngân hàng là một trung gian tài chính có chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trƣờng tài chính và cho vay lại với các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế. Do các nguồn vốn huy động đều có thời hạn và phải hoàn trả nên hoạt động cấp tín dụng cũng cần phải thu hồi đƣợc vốn để ngân hàng trả cho các chủ thể cung ứng vốn.
Về phía khách hàng, nếu thời hạn vay vốn ngắn hạn chu kỳ luân chuyển vốn, khách hàng không thể tích lũy đủ lƣợng vốn trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Ngƣợc lại, thời hạn vay vốn dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. 12 Thứ ba, tín dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Ngân hàng là một trung gian tài chính hoạt động trên nguyên tắc bù đắp chi phí (bao gồm cả chi phí huy động vốn trả cho ngƣời có nguồn tiền nhàn rỗi gửi tại ngân hàng) và có lợi nhuận.
Do vậy, khi hoàn trả khoản tín dụng ngân hàng, khách hàng phải trả khoản tiền lớn hơn giá trị lúc ban đầu, bao gồm tiền gốc và khoản lãi. Thú tư, tín dụng tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. Xét trong mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, sự bất cân xứng trong thông tin giữa ngân hàng và khách hàng dẫn tới sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra, khoản tín dụng còn chịu tác động từ các nhân tố bên ngoài, vƣợt quá khả năng kiểm soát của cả khách hàng và ngân hàng.
Những nhân tố bên trong và bên ngoài này dẫn tới việc đánh giá mức độ rủi ro và kiểm soát rủi ro của khoản tín dụng trƣớc và sau khi cấp là rất khó khăn cho ngân hàng. Ngân hàng luôn buộc phải chấp nhận rủi ro (dù ở mức độ nào) khi cấp tín dụng cho khách hàng do đây là đặc thù của hoạt động cấp tín dụng. Thứ năm, tín dụng dựa trên cam kết hoàn trả vô điều kiện. Căn cứ vào các quy định trong hợp đồng tín dụng và các văn bản pháp lý đi kèm, khách hàng bắt buộc phải hoàn trả khoản giá trị đƣợc ngân hàng cấp ban đầu dù có bất kỳ tình huống nào xảy ra.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Quan niệm về mở rộng tín dụng ngân hàng Ngân hàng thƣơng mại có ba chức năng cơ bản là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, và tạo tiền. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò là cầu nối giữa các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn. Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay lại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện hai chức năng còn lại.
Với vai trò là một trong những hoạt động kinh doanh chủ chốt, mở rộng tín dụng là nền tảng quan trọng trong tiến trình phát triển của một hệ thống ngân hàng nói chung, hay một ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nói riêng. Mở rộng tín dụng đƣợc thể hiện trên nhiều khía cạnh nhƣ quy mô dƣ nợ (tổng số, theo ngành nghề, theo đối tƣợng, theo kỳ hạn…); số lƣợng khách hàng đƣợc cấp tín dụng, số lƣợng khoản tín dụng, giá trị/khoản tín dụng; tín dụng đƣợc cấp phân theo đơn vị hành chính, địa lý…; số lƣợng sản phẩm tín dụng ngân hàng cung ứng cho khách hàng. 13 Mở rộng hay còn đƣợc gọi là tăng trƣởng, là khái niệm đo lƣờng sự tăng thêm về khối lƣợng hay giá trị, thƣờng trong một khoảng thời gian nhất định.