phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Trong các hoạt động của ngân hàng thì hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên từ xƣa tới nay các ngân hàng chỉ quan tâm tới cho vay các nhà sản xuất kinh doanh mà chƣa quan tâm đến giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất là tiêu dùng. Nếu chỉ cho vay sản xuất nhiều mà khách hàng không tiêu thụ đƣợc do ngƣời dân không có nhu cầu về hàng hóa đó hoặc có nhu cầu nhƣng lại không có đủ khả năng thanh toán thì tất yếu sẽ dẫn tới cung vƣợt quá cầu, hàng hóa không tiêu thụ đƣợc dẫn đến tồn kho và doanh nghiệp bị ứ đọng vốn, đƣơng nhiên quá trình sản xuất không thể tiếp tục và khả năng phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu rất cao. Theo điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào các mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Trên cơ sở đó thì hoạt động cho vay của NHTM có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. 6 Từ thực tế đó cho thấy, khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty, doanh nghiệp là cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trƣờng mà hiện nay các cá nhân cũng là những ngƣời cần vốn hơn bao giờ hết. Cuộc sống ngày càng hiện đại, mức sống của ngƣời dân cũng ngày càng đƣợc nâng cao, cuộc sống ngày nay không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã chuyển dần sang “ăn ngon, mặc đẹp” và cũng còn biết bao nhu cầu khác cần đƣợc đáp ứng. Tuy nhiên, với thu nhập hiện tại, phần lớn ngƣời tiêu dùng không có khả năng chi trả tất cả nhu cầu đời sống của mình trong cùng một lúc.
Giờ đây, tâm lý ngƣời dân coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóa trƣớc khi có khả năng thanh toán.Ngân hàng cho ngƣời tiêu dùng vay vốn đã tạo ra khả năng thanh toán cho họ trƣớc khi họ tích lũy đủ số tiền cần thiết. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hóa, thu hồi đƣợc vốn để trả nợ cho ngân hàng và quay vòng sản xuất. Nhƣ vậy, việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng một mặt vừa tạo thêm thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác tạo điều kiện cho các cá nhân có đƣợc nguồn vốn để cải thiện cuộc sống của mình và thúc đẩy sản xuất phát triển. Bên cạnh đó, doanh nghiệp là đối tƣợng cho vay chủ yếu của NHTM.
Tuy nhiên, thị phần cho vay các doanh nghiệp của NHTM đã và đang giảm sút. Đó là do nhiều công ty lớn tự tài trợ chủ yếu bằng phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Một nguyên nhân nữa là các NHTM phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực cho vay của các công ty tài chính. Do đó, các ngân hàng có xu hƣớng mở rộng thị trƣờng cho vay tiêu dùng để gia tăng thu nhập.
Cuối cùng, thu nhập của ngƣời tiêu dùng ngày càng đƣợc cải thiện và ổn định hơn, từ đó có thể đảm bảo việc trả nợ cho ngân hàng một cách đều đặn. Do đó, rủi ro trong cho vay tiêu dùng của NHTM sẽ có xu hƣớng giảm. Nhƣ vậy, sự ra đời của hình thức cho vay tiêu dùng đã giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng chi trả của bản thân ngƣời tiêu dùng trong 7 hiện tại. Vì vậy, cho vay tiêu dùng cá nhân đã nhanh chóng phát triển thành một thị trƣờng lớn đầy tiềm năng và hấp dẫn đối với các Ngân hàng.
Do đó cho vay tiêu dùng cá nhân giữ một vị trí quan trọng và ngày càng tỏ ra là một phần không thể thiếu của Ngân hàng cũng nhƣ nền kinh tế. Cho vay tiêu dùng là việc ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống của khách hàng. Những khoản chi giá trị lớn, cần tích góp lâu dài vƣợt quá điều kiện tài chính của khách hàng. CVTD cho phép khách hàng đƣợc sử dụng trƣớc khả năng mua hàng hóa của mình trong tƣơng lai, tức là tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trƣớc khi họ có khả năng chi trả.
Do đó, ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất, CVTD còn gián tiếp kích thích sản xuất và phát triển kinh tế. Hiện nay, các hoạt động CVTD cần tuân theo Thông tƣ 39/2016/TT- NHNN và Thông tƣ 43/2016/TT-NHNN. Tại Điều 3 của Thông tƣ 43/2016/TT-NHNN quy định Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100. Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng - Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng tại thời điểm hiện tại nhƣng chƣa có khả năng thanh toán. - Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu 8 tiêu dùng cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh. Các nhu cầu có thể liệt kê nhƣ: mua nhà, xây dựng và sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, mua xe, mua nhà trả góp, chữa bệnh, đi học. - Quy mô khoản vay: Mỗi khoản vay thƣờng có quy mô tƣơng đối nhỏ so với các khoản cho vay kinh doanh.
Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhƣng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lƣợng vốn tích lũy trƣớc, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu (so với vay kinh doanh, có thể chủ đầu tƣ vay toàn bộ số tiền cần thiết cho dự án). Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cũng thƣờng thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng. - Số lƣợng các khoản cho vay: thƣờng là rất lớn do đối tƣợng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng.
Khi chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí đƣợc nâng cao, ngƣời dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lƣợng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều. - Thời hạn vay: Các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân có thời hạn vay thƣờng là ngắn và trung hạn do món vay có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao đối với ngân hàng. Tuy nhiên, đối với cho vay bất động sản lại thƣờng có thời hạn dài do ngƣời dân phải tích lũy thu nhập một thời gian tƣơng đối mới có thể đủ tiền trả ngân hàng.
- Nguồn trả nợ: khác với cho vay kinh doanh, ngƣời vay sử dụng tiền vào mục đích không sinh lời nên nguồn trả nợ không phải từ kết quả sử dụng khoản vay mà khách hàng trả nợ bằng cách trích nguồn thu nhập từ lƣơng, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác của mình. - Rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì thực tế loại 9 hình này cho vay không sinh lợi, không có một dòng tiền đƣợc xác định chắc chắn sẽ có trong tƣơng lai để thanh toán cho ngân hàng. Nguồn trả nợ của khách hàng không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: tình trạng sức khoẻ, kinh nghiệm làm việc, thất nghiệp, cơ cấu, chu kỳ của nền kinh tế, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình… Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân ngƣời tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho ngân hàng. Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho ngân hàng, hơn nữa thông tin tài chính của đối tƣợng này rất khó đầy đủ và chính xác hoàn toàn.
Vì vậy để hạn chế các rủi ro nêu trên, trong hầu hết các khoản vay tiêu dung ngân hàng đều yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo. Những khách hàng có việc làm, có thu nhập ổn định, có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng quyết định việc cho vay tiêu dùng. - Chi phí quản lý món vay: Đối với mỗi món vay, ngân hàng đếu phải bỏ chi phí để thẩm định, giải ngân, kiểm tra giám sát khoản vay, thu nợ. Trong khi đặc trƣng của cho vay tiêu dùng là quy mô khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng món vay rất lớn nên chi phí quản lý trên một đồng vốn cho vay lớn hơn so với món vay kinh doanh.
- Lãi suất: Lãi suất trong hoạt động cho vay tiêu dùng thƣờng cao hơn các hoạt động cho vay để phục vụ hoạt động kinh doanh.