CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DNNVV 1.Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một khái niệm khá đa dạng. Tùy theo từng quan điểm, các học giả khác nhau, các vùng miền khác nhau, các quốc gia khác nhau thì sẽ có những định nghĩa khác nhau về Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bởi vậy, Meredith (1993) cho rằng định nghĩa về DNNVV trên thế giới thay đổi theo từng quốc gia, từng khu vực. Nhưng nhìn chung các học giả, các nhà hoạch định chính sách đưa ra định nghĩa về DNNVV dựa trên cơ sở các yếu tố định tính hay định lượng.
Khi dựa vào các yếu tố đinh tính, các học giả và các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các tiêu chí như mức độ chuyên môn hóa của doanh nghiệp, số đầu mối quản lý của doanh nghiệp, mức độ phức tạp trong công tác quản lý của doanh nghiệp… Phương pháp dựa trên các yếu tố định tính có ưu điểm là nó phản ánh đúng thực chất năng lực, trình độ của doanh nghiệp; nhưng nó cũng có nhược điểm là tính “định tính” của các yếu tố đã làm cho tính thực tiễn của phương pháp này không cao. Do vậy, chúng thường được sử dụng dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Khi dựa vào các yếu tố có tính “định lượng”, các học giả và các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận… Trong các tiêu chí này, tiêu chí thường được sử dụng phổ biến là số lượng lao động, vốn/tài sản, doanh thu. Phương pháp xác định mang tính “định lượng” này có ưu điểm là cụ thể, dễ xác định, dễ tính toán, dễ hình dung.
Tuy 5 nhiên nó lại phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh cụ thể (Ví dụ do đặc điểm riêng có của mình, ngành dệt may ở các nước đang phát triển sử dụng rất nhiều lao động) cũng như phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng nước, từng khu vực. Chính vì vậy, nhiều học giả, nhiều nhà hoạch định chính sách đã chủ yếu dựa vào các yếu tố mang tính định lượng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các học giả cũng như các nhà hoạch định chính sách trên thế giới thường chia doanh nghiệp nhỏ và vừa thành 3 loại: doanh nghiệp cực nhỏ (micro – sized), doanh nghiệp nhỏ (small – sized) và doanh nghiệp vừa (medium – sized). Bởi vậy khi định nghĩa DNNVV, các học giả, các nhà hoạch định chính sách cũng gắn chặt định nghĩa của mình với 3 loại hình này.
Tuy nhiên tiêu chí phân loại DNNVV ở các quốc gia, tổ chức trên thế giới có sự khác nhau. Cụ thể như sau: a. Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và tổ chức trên thế giới. Hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô.
Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp.
Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, bởi vì tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu cụ thể được cho ở bảng sau: 6 Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực Số lao động Quốc gia/Khu vực Phân loại DNNVV Vốn đầu tư Doanh thu bình quân A.NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không quy định Không quy định 2. Nhật Bản -Đối với ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu Không quy định -Đối với ngành thương mại 1-100 ¥ 0-100 triệu -Đối với ngành dịch vụ 1-100 ¥ 0-50 triệu 3.
EU Siêu nhỏ < 10 Không quy định Không quy định Nhỏ < 50 < €7 triệu Vừa < 250 < €27 triệu 4. Australia Nhỏ và vừa < 200 Không quy định Không quy định 5. Canada Nhỏ < 100 Không quy định < CDN$ 5 triệu Vừa < 500 CDN$5-20 triệu 6. New Zealand Nhỏ và vừa < 50 Không quy định Không quy định 7.
Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy định Không quy định 8. Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1. Thailand Nhỏ và vừa Không quy < Baht 200 triệu Không quy định định 2.
Malaysia - Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu 3. Philippine Nhỏ và vừa < 200 Peso1,5-60 triệu Không quy định 4. Indonesia Nhỏ và vừa Không quy < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu định 5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 Không quy định Không quy định C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI 1.
Russia Nhỏ 1-249 Không quy định Không quy định Vừa 250-999 2. China Nhỏ 50-100 Không quy định Không quy định Vừa 101-500 3. Poland Nhỏ < 50 Không quy định Không quy định Vừa 51-200 4. Hungary Siêu nhỏ 1-10 Không quy định Không quy định Nhỏ 11-50 Vừa 51-250 Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.2: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số tổ chức trên thế giới THEO LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) Doanh nghiệp Số lượng lao động Doanh số Hoặc Tài sản Cực nhỏ Dưới 10 Không quá 2 tỷ € Không quá 2 tỷ € Nhỏ Dưới 50 Không quá 10 tỷ € Không quá 10 tỷ € Vừa Dưới 250 Không quá 50 tỷ € Không quá 43 tỷ € THEO NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (IFC) Số lượng lao động Tổng giá trị tài sản Doanh nghiệp Doanh thu (người) hoặc nguồn vốn Cực nhỏ Không quá 10 người 100.000 USD Nhỏ Không quá 50 người 3.000 USD Vừa Không quá 300 người 15.
Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam. Tại Việt Nam, sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam. Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNNVV là vốn điều lệ và lao động của doanh nghiệp. Cụ thể: DNNVV là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hằng năm dưới 200 người.
Tiếp theo đó để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các DNNVV, theo điều 3 của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 thang 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người. Theo định nghĩa này, các DNNVV ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân 8 có quy mô nhỏ và vừa được đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, luật Hợp tác xã, doanh nghiệp theo hình thức hộ kinh doanh cá thể được điều chỉnh bởi quy định của Chính phủ. Hiện nay, theo điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cở sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Ngoài các tiêu chí trên, Nghị định còn căn cứ vào ngành hoạt động để phân loại, cụ thể được thể hiện ở bảng 1.3 như sau: Bảng 1.3: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam.
Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Ngành Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động (người) vốn (tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) (người) 1.Nông, lâm nghiệp Dưới 10 Dưới 20 Trên 10 - 200 Trên 20 - 100 Trên 200-300 và thủy sản 2. Công nghiệp và Dưới 10 Dưới 20 Trên 10 - 200 Trên 20 - 100 Trên 200-300 xây dựng 3. Thương mại và Dưới 10 Dưới 10 Trên 10 - 50 Trên 10 – 50 Trên 50 - 100 dịch vụ (Nguồn: Nghị đinh số 56/2009/NĐ-CP) Mục đích của việc phân loại các DNNVV như vậy, vừa là để khai thác các chủ trương, chính sách trợ giúp phát triển DNNVV; mặt khác để tăng cường quản lý nhà nước về trợ giúp phát triển DNNVV ở nước ta. Việc phân loại của Chính phủ thể hiện sự đặc biệt coi trọng vai trò, vị trí quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân.2 Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam Hoạt động của các DNNVV luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình độ phát triển của các quốc gia đó.
Nhìn chung, các DNNVV ở Việt Nam cũng mang những đặc điểm tương đồng với DNNVV ở các nước đang phát triển. Bao gồm những lợi thế và bất lợi như sau: a. Những lợi thế: Thứ nhất: Với quy mô không lớn, bộ máy gọn nhẹ, các DNNVV đáp ứng được những nhu cầu nhỏ lẻ, kết hợp với ưu điểm trong việc có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh chóng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; tận dụng được các nguồn nguyên, nhiên vật liệu, nhân lực tại chỗ do có mối quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì đây chính là khả năng mà các doanh nghiệp nước ngoài không thể có được.
Thứ hai: DNNVV có thể được tạo lập dễ dàng chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn lại nhanh.