phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 phần: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Hoài Đức. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Hoài Đức. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, chƣa có chuẩn mực chung, thống nhất trên thế giới để xác định DNNVV nhƣng về cơ bản, việc phân loại đƣợc dựa trên các tiêu chí nhƣ: số lƣợng nhân viên, quy mô tài sản, doanh thu hàng năm, lĩnh vực hoạt động. Ví dụ nhƣ: Tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lƣợng nhân viên dƣới 250 ngƣời và doanh thu hàng năm nhỏ hơn 50 triệu euro. Còn tại Hoa Kỳ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số ngƣời lao động dƣới 500 ngƣời (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dƣới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 35,5 triệu đô la) [8].
Và tại Việt Nam, trong phạm vi của Luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài. Theo đó, DNNVV đƣợc định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân 7 đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tiêu nhỏ chí Số Tổng Số Tổng Số lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động I- Nông, 10 ngƣời 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên lâm nghiệp trở xuống trở xuống ngƣời đến tỷ đồng 200 ngƣời và thủy sản 200 ngƣời đến 100 tỷ đến 300 đồng ngƣời II- Công 10 ngƣời 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên nghiệp và trở xuống trở xuống ngƣời đến tỷ đồng 200 ngƣời xây dựng 200 ngƣời đến 100 tỷ đến 300 đồng ngƣời III- 10 ngƣời 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 Thƣơng trở xuống trở xuống ngƣời đến tỷ đồng ngƣời đến mại và 50 ngƣời đến 50 tỷ 100 ngƣời dịch vụ đồng Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và linh hoạt nhưng năng lực quản trị chưa cao. Với số lƣợng lao động không quá 300 ngƣời, cơ cấu tổ chức tƣơng đối đơn giản, không có quá nhiều khâu trung gian là một lợi thế giúp doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập và thích ứng nhanh với sự biến động của nhu cầu 8 thị trƣờng. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức này cũng bộc lộ những điểm hạn chế nhƣ: không phân công trách nhiệm rõ ràng, quy trình quản lý công việc và nhân sự chƣa đƣợc chuẩn hóa.
Về dài hạn, điều này sẽ cản trở đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thứ hai, vốn chủ sở hữu thấp, tiềm lực tài chính nhỏ và thiếu minh bạch thông tin nên khó tiếp cận được với nguồn vốn bên ngoài. Vấn đề về vốn luôn là một trong những trở ngại lớn nhất đối với sự hình thành và phát triển của các DNNVV. Mặc dù có sự tăng trƣởng nhanh về số lƣợng nhƣng nếu xét quy mô vốn của các DNNVV thì lại rất thấp và sự tăng trƣởn cũng không cao.
Chủ yếu vốn của các doanh nghiệp này tồn tại dƣới dạng hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu và chỉ một phần nhỏ tồn tại dƣới dạng tiền mặt. Vốn chủ sở hữu thấp, năng lực tài chính chƣa cao nên các DNNVV khó có khả năng đầu tƣ mua sắm thiết bị máy móc, đầu tƣ nhà xƣởng, hiện đại hóa quy trình công nghệ. Thêm vào đó, vấn đề minh bạch hóa thông tin cũng còn nhiều hạn chế nên nhiều DNNVV rất khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại, còn việc huy động vốn trên thị trƣờng tài chính cũng gặp rất nhiều khó khăn do uy tín của các doanh nghiệp này không cao. Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, người lao động trình độ thấp vẫn chiếm chủ yếu.
Đội ngũ lao động tại các DNNVV khá phong phú với trình độ rất đa dạng, từ lao động thủ công đến có tay nghề, và cả những ngƣời lao động có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, trong số đó thì lao động có trình độ thấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, gây khó khăn cho việc quản lý và sử dụng lao động, cũng nhƣ ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 9 Nguyên nhân chính do phần lớn các DNNVV kinh doanh các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu nhƣ các sản phẩm, dịch vụ phục vụ tiêu dùng hay các sản phẩm truyền thống nhƣ cung cấp lƣơng thực thực phẩm, chế biến thủy hải sản, dệt may… Quá trình sản xuất của những ngành này thƣờng chủ yếu sử dụng lao động phổ thông không qua đào tạo. Mặt khác, do quy mô nhỏ, đem lại giá trị gia tăng thấp, môi trƣờng làm việc không chuyên nghiệp khiến các doanh nghiệp này khó có khả năng thu hút lao động có trình độ cao.
Bên cạnh đó, các DNNVV lại đƣợc hình thành từ các hộ kinh doanh cá thể, hay một nhóm ngƣời có quan hệ gia đình, bạn bè cùng góp vốn nên cũng là một nguyên nhân khiến tính chọn lọc nguồn nhân lực không cao, chất lƣợng nguồn nhân lực thấp. Thứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong nhiều lĩnh vực Các DNNVV hoạt động trong mọi ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng, vận tải… Với quy mô nhỏ, chi phí sản xuất kinh doanh thấp nhờ tận dụng đƣợc nguồn lao động, nguồn nguyên liệu rẻ tại địa phƣơng nên các DNNVV có thể sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho nhiều đối tƣợng khách hàng khác nhau, đặc biệt là những khách hàng chuyên biệt, những phân đoạn nhỏ của thị trƣờng. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng có thể thực hiện các hoạt động nhƣ nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản và đầu tƣ tài chính. Trong các hoạt động đó, cho vay là một trong những nghiệp vụ quan trọng , mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng [5].
10 Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nhƣ vậy, khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại có thể hiểu một cách khái quát là hình thức cho vay, trong đó có sự chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao một khoản tiền từ phía ngân hàng thƣơng mại sang ngƣời sử dụng (ngƣời đi vay) là các doanh nghiệp nhỏ và vừa để sử dụng vào mục đích và thời gian xác định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Xuất phát từ những đặc điểm của các DNNVV, hoạt động cho vay đối với đối tƣợng này cũng có những đặc điểm riêng, nhƣ: Thứ nhất, dư nợ cho vay đối với mỗi khách hàng thường nhỏ. Đặc điểm này xuất phát từ quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV thƣờng nhỏ, nhu cầu vay vốn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tài trợ vốn lƣu động nên thƣờng có giá trị thấp.
Vì vậy, quy mô vốn vay đối với mỗi DNNVV không lớn và thuộc thị trƣờng bán lẻ của ngân hàng. Tuy nhiên, số lƣợng các khách hàng này đông đảo, nếu ngân hàng biết tận dụng cơ hội khai thác thì khả năng tăng trƣởng tín dụng là rất lớn. Thứ hai, thời gian các khoản vay thường ngắn. Đặc điểm này xuất phát từ nhu cầu của các DNNVV chủ yếu vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lƣu động nên thời gian các khoản vay thƣờng ngắn.
Thứ ba, thiếu tài sản bảo đảm. Đặc điểm này xuất phát từ quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV thƣờng nhỏ nên tiềm lực tài chính của 11 DNNVV còn hạn chế. Do đó, các DNNVV thƣờng không có, không đủ tài sản bảo đảm cho việc vay vốn, nếu có thì không đáp ứng đầy đủ quy định về tài sản bảo đảm cho vay của ngân hàng [10]. Thứ tư, mức độ rủi ro cho vay cao.
Các DNNVV thƣờng hoạt động với quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức hoạt động kinh doanh giản đơn, thiếu chặt chẽ, vấn đề minh bạch hóa thông tin, chấp hành chế độ kế toán tài chính còn nhiều bất cập. Do đó, các ngân hàng thƣờng gặp nhiều rủi ro khi cho vay đối với DNNVV nhƣ: sử dụng vốn sai mục đích, không trả nợ đúng hạn hoặc không thu hồi đƣợc nợ và dẫn tới mất vốn. Tuy nhiên, quy mô một món vay nhỏ khi phát sinh nợ quá hạn hay nợ xấu thì chủ yếu tác động tới thu nhập của ngân hàng, không tạo thành các rủi ro khác nhƣ: rủi ro thanh khoản, rủi ro phá sản [10]. Thứ năm, ngân hàng có nhiều cơ hội tăng thêm lợi nhuận từ hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Với nhóm khách hàng DNNVV, ngân hàng thƣờng áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Mặt khác, giá trị của một khoản vay tuy không lớn nhƣng với số lƣợng các DNNVV đông đảo nên việc gia tăng lợi nhuận từ nhóm khách hàng này rất tiềm năng.