CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tiêu chí để xét DNNVV tại các quốc gia trên thế giới thường dựa vào các yếu tố như: vốn, lao động, doanh thu. Tuy nhiên, tùy theo trình độ phát triển kinh tế cũng như các chính sách, biện pháp, định hướng phát triển DNNVV của từng quốc gia mà tiêu chí xác định DNNVV có sự khác biệt.
Việc xác định có thể dựa trên những đặc điểm như trình độ chuyên môn hóa, sự minh bạch tài chính, sự phức tạp của quản lý. Cũng có thể dùng các tiêu chí như số lượng lao động, quy mô vốn, doanh thu, giá trị tài sản… Trong đó hai tiêu chí thường được sử dụng là số lượng lao động và quy mô vốn. Theo nhóm tiêu chí này thì thuận lợi cho việc xác định nhưng nó lại thường mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tính chất vùng miền, ngành nghề; trình độ kinh tế của một nước. Một số quốc gia lại có các chỉ tiêu phân biệt khác biệt như giá trị Tài sản cố định, vốn trên một lao động.
nhưng hầu hết các quốc gia chọn chỉ tiêu số lao động bình quân và vốn đầu tư để xác định. Ở Việt Nam, nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì: “Tiêu chí xác định DNNVV đó là cơ sở sản cuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Khoản 7, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp 8 là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong đó, theo luật doanh nghiệp 2005 giải thích về khái niệm kinh doanh: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó DNNVV được phân theo quy mô bao gồm 3 loại là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, các tiêu chí xác định DNNVV lại được phân loại chi tiết như sau [4]: Bảng 1.1: Phân loại DN Nhỏ và vừa theo Nghị định 39 Đơn vị: người/tỷ đồng Quy mô/ DN DN nhỏ DN vừa Khu vực siêu nhỏ Doanh Doanh Doanh thu/tổng nguồn Lao động thu/tổng Lao động thu/tổng Lao động vốn nguồn vốn nguồn vốn I. Nông, lâm nghiệp thủy DT/năm ≤ 3 DT/năm ≤ DT/năm ≤ sản và lĩnh tỷ đồng hoặc 50 tỷ đồng 200 tỷ đồng ≤ 200 ≤ 100 người vực công TNV ≤ 3 tỷ hoặc TNV ≤ hoặc TNV ≤ người nghiệp xây đồng. dựng người DT/năm ≤ DT/năm ≤ DT/năm ≤ II. Thương 10 tỷ đồng 100 tỷ đồng 300 tỷ đồng ≤ 100 ≤ 50 người mại, dịch vụ hoặc TNV ≤ 3 hoặc TNV ≤ hoặc TNV ≤ người tỷ đồng.
100 tỷ đồng Nguồn: Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Theo đó, DNVVN phải đáp ứng các tiêu chí sau: Là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo qui định của pháp luật; Quy mô được phân 9 thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn; Về tổng nguồn vốn và số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào qui mô và loại hình DN. DNNVV mang một số đặc điểm: -Việc thành lập doanh nghiệp chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu không lớn, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng không lớn; - Bộ máy quản trị tinh gọn, có tính chất năng động, linh hoạt, có khả năng thích ứng nhanh trong việc chuyển hướng kinh doanh và ít bị tổn thất do môi trường kinh doanh biến động; - Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong DNNVV chưa được quan tâm, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, thường sử dụng công nghệ, kỹ thuật cũ nên chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh không cao; - Trình độ cán bộ quản lý và nhận thức của người lao động ở các DNNVV không cao, nhất là chấp hành chế độ quản lý tài chính, kế toán, chế độ chính sách về thuế. Cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm cho vay DNNVV tại NHTM Khoản 14, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Trong đó nghiệp vụ cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM. Khoản 1, điều 2, thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời 10 gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” và “Hoạt động cho vay có thể được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó: Bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.” Như vậy, cho vay khách hàng DNNVV là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là DNNVV một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh. Nguồn tiền dùng để NHTM cho vay khách hàng DNNVV đến từ hai nguồn chính gồm: Vốn tự có: “gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Việt Nam.” và Nhận tiền gửi: “là hoạt động nhận tiền của tổ chức cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.” Hoạt động cho vay khách hàng DNNVV tại NHTM có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, việc nắm bắt thông tin và bao quát tình hình của DNNVV dễ dàng, công tác thẩm định ít tốn kém về mặt thời gian và cũng không đòi hỏi cao về trình độ thẩm định, quy trình và thủ tục cho vay cũng được thiết kế đơn giản; Thứ hai, việc phân tích thẩm định tín dụng nếu dựa vào các số liệu tài chính DNNVV cung cấp thường có độ tin cậy không cao; Thứ ba, DNNVV tự lập dự án, phương án vay vốn một cách chi tiết chưa thực sự tốt; Thứ tư, cho vay DNNVV có rủi ro cao so với cho vay doanh nghiệp lớn; Thứ 11 năm, cho vay nhiều DNNVV sẽ phân tán được rủi ro hơn là cho vay một vài doanh nghiệp quy mô lớn. Phân loại cho vay khách hàng DNNVV tại NHTM Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn cho vay.
- Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời gian ngắn, dưới một năm. Những khoản cho vay này chủ yếu là để tài trợ vốn luân chuyển có tính thời vụ và tạm thời cho các nhu cầu sản xuất thường xuyên của công ty. Một số sản phẩm phù hợp với loại hình cho vay này là cho vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, sản phẩm cho vay quay vòng KHDN. - Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Cho vay trung hạn chủ yếu là để doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh trong dài hạn. Ngày nay việc vay vốn ngân hàng đã trở nên phổ biến đối với doanh nghiệp và cá nhân, nhờ những lợi ích của nó mang tới. Thời gian vay trung hạn từ 01-05 năm hỗ trợ rất nhiều cho các đối tượng cần vốn ngay mà không có khả năng xoay vốn để trả nợ. Nếu như cho vay ngắn hạn phù hợp với các doanh nghiệp cần vốn tạm thời, thì cho vay trung hạn dành cho các doanh nghiệp cần đầu tư các dự án, đầu tư tài sản cố định như mua mới hay sửa chữa, khả năng luân chuyển vốn chậm như cho vay mua ô tô, đầu tư máy móc, nhà xưởng, sản phẩm cho vay các doanh nghiệp ngành xây lắp.
- Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm phục vụ chủ yếu cho mục đích cấp vốn cho các dự án lớn, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, cải tiến khoa học công nghệ, đầu tư dài hạn cho cá nhân cũng như doanh nghiệp… những dự án có thời gian thu thu hồi vốn dài như đầu tư mua bất động sản hoặc đầu tư dự án. Thứ hai, căn cứ vào hình thức bảo đảm - Cho vay không bảo đảm: hay còn gọi là cho vay tín chấp, doanh 12 nghiệp vay vốn mà không có tài sản thế chấp, hay được bảo lãnh của bên thứ ba. Tài sản bảo đảm là một phương án để đảm bảo rằng khi khách hàng DNNVV không đủ khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể thu hồi khoản nợ từ việc xử lý tài sản. NHTM đánh giá uy tín dựa trên phương án kinh doanh có khả thi hay không, có khả năng đem lại lợi nhuận cao, từ đó để quyết định và lượng hóa giá trị cho vay; - Cho vay bảo đảm đầy đủ bằng tài sản: là hình thức cho vay mà khách hàng DNNVV đưa các tài sản của mình hoặc của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay của mình và NHTM đánh giá giá trị tài sản đảm bảo cho khoản vay lớn hơn giá trị tối đa của khoản vay.