Chương 1: Nhũng vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng đối với D NNW Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng đối vón D N N W tại Ngân hàng TMCP Quân đội —Chi nhánh Hoàn Kiếm Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng đổi vón D N N W tại Ngân hàng TMCP Quân đội —Chi nhánh Hoàn Kiếm 4 CH Ư Ơ N G 1 N H Ữ N G V Ấ N ĐÈ c ơ BẢN VÈ H O Ạ T Đ Ộ N G TÍN DỤNG Đ Ố I VỚI D O ANH N G H IỆP NHỎ V À V Ừ A CỦA N G Â N H À N G TH Ư Ơ NG M ẠI 1. VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NÈN KINH TÉ 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong một nền kinh tế có rất nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Có thế hiếu một cách chung nhất doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phấm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường.
Có rất nhiều cách phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụ thế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thế chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ- CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, .qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. 5 Như vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có số lượng lao động không quá 300 người. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của các DNNVV vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện các nước đang phát triển như Việt Nam.
Các DNNVV cung cấp một số lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế. Cả nước hiện có trên 500. Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. DNNVV là những doanh nghiệp có qui mô nhỏ về mặt vốn hay lao động, mô hình quản lý đon giản, chi phí quản lý và đào tạo không lớn; do đó dễ dàng thành lập và dễ chuyển đổi mặt hàng kinh doanh.
Hoạt động của các doanh nghiệp này hướng vào lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, dung lượng thị trường lớn, đáp ứng nhu cầu cần thiết của dân cư. Điều đó cho thấy các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa và cung cấp hàng hóa, dịch vụ bô sung cho các doanh nghiệp lớn, là những vệ tinh, những xí nghiệp gia công cho những doanh nghiệp lớn cùng hệ thống đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho'các doanh nghiệp lớn. Làm cho nền kinh tế năng động: Xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và 6 công nghệ. Chính vì thế lợi thế của các DNNVV càng thể hiện rõ nét hơn các doanh nghiệp này có thể sử dụng máy móc thiết bị trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không tổn kém nhiều chi phí, có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại.
Nhờ sự phat tnen cua tiên bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin tạo khả năng to lớn trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào trong hoạt động của DNNVV. Bên cạnh đó khả năng đổi mới sản phẩm của DNNVV nhanh có thể phản ứng kịp thời với xu thế của tiêu dùng. Tổ chức của các DNNVV đon giản, chi phí thấp: Các DNNVV thường có qui mô vốn nhỏ hay số lao động không nhiều do đó việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ có sự gần gũi thường xuyên giữa người chủ doanh nghiệp với các nhân viên. Vì vậy các quyết định, chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanh chóng không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí.
Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: o phan lơn cac nen kinh tê, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thâu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thơi điem cho phep nen kinh tê có được sự ôn đinh. Vì thê, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trọ' quan trọng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Là trụ cột của kinh tế địa phương: Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đât nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương va la ngươi đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. 7 Do qui mô nhỏ nên các DNNVV cũng cần ít diện tích xây dựng cở sở sản xuất, có khả năng phân tán sản xuất, có thể thâm nhập dễ dàng vào các thị trường nhỏ lẻ mà các doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ. Nó có vai trò tích cực trong việc khai thác thế mạnh về tài nguyên, đất đai, lao động để phát triển kinh tế địa phưcmg từ đó giúp phát triển cân đối giữa các vùng miền Có thể thấy ưu thế rõ rệt của các DNNVV trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, tuy nhiên để hỗ trợ phát triển loại hình doanh nghiệp này cần khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Đó là: Quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, nguồn vốn hạn chế: Nhìn chung ở nước ta tình trạng các DNNVV hoạt động thiếu vốn là chủ yêu, nguôn vay hâu như dựa vào nguồn vốn tự có và vay trên thị trường phi tài chính.
Mặc dù đã có nỗ lực từ phía chính quyền địa phương nhưng vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trong các lĩnh vực như đất đai, mặt băng sản xuât. Các DNNVV cũng ít có khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của ngân hàng do không đảm bảo điều kiện cần thiết về tài sản đảm bảo hay các điều kiện vay vốn khác. Điều này dẫn đến các doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ khó khăn khi muốn mở rộng thị trường. Theo số liệu ước tính đến nay có đến 44,44% các doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng; từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng có 33,21 /ó; tư 5 tỷ đên 10 tỷ đông có 8,24%.
Khoảng 66,7% các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất. Trình độ quản lý, quản trị doanh nghiệp còn yếu kém: Nang lực và trình độ quản lý của đội ngũ chủ DNNVV hiện nay còn rất thấp. Phần lớn cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp này khi thành lập doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên kinh nghiệm là chính chưa 8 được đào tạo qua trường lớp cơ bản nên còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý kinh tế cũng như ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy định của pháp luật trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo số liệu thống kê hiện nay số tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; tốt nghiệp đại học là 37,82%, tốt nghiệp cao đẳng là 3.56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn.
Trình độ tay nghề của đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế: Khu vực DNNVV được xem là khu vực thu hút nhiều lao động nhất, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người dân. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu nên hầu như lao động giản đơn chưa qua trường lớp đào tạo, chỉ làm theo kinh nghiệm truyền tay của gia đình hay của các kỹ thuật viên của doanh nghiệp. Do vậy tính năng động, sáng tạo trong việc phát huy sáng kiến cải tiến mẫu mã hàng hóa chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mặt khác công tác đào tạo tay nghề cho lao động lại chưa được các doanh nghiệp thực sự quan tâm, hiện nay thì chỉ mới có khoảng gần 6% doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tay nghề, kỹ thuật, công nghệ.
Những hạn chế về tay nghề của đội ngũ lao động làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời làm tăng chi phí về sử dụng lao động cho doanh nghiệp. Công nghệ lạc hậu: Hiện nay các DNNVV ở Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu 1- 2 thế hệ. v ề trình độ công nghệ chỉ có khoảng 8%-10% số doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hầu như các doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, có nhiều doanh nghiệp hiện đang sử dụng trang thiết bị không đồng bộ và hỗn tạp do nhiều nước sản xuất. Điều này dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, giảm hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này 9 trên thị trường.
Thực tế này là do các DNNVV của Việt Nam còn thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở rộng nang lực san xuat nhưng lại khó khăn trong việc tiêp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng, trong khi chi phí vay từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng lại khá cao.