CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo khoản 12, điều 8 Luật Doanh nghiệp 2019 của Lào có nêu định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP Lào ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lào Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô Khu vực siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động từ trên từ trên 10 từ trên 10 I. Nông, lâm nghiệp 10 người 10 tỷ Kip 200 người người đến tỷ Kip đến và thủy sản trở xuống trở xuống đến 300 200 người 500 tỷ đồng người từ trên từ trên 10 từ trên 10 II.
Công nghiệp và 10 người 10 tỷ Kip 200 người đến tỷ Kip đến xây dựng trở xuống trở xuống người đến 200 người 50 tỷ Kip 300 người từ trên 10 từ trên 5 tỷ từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 5 tỷ Kip người đến Kip đến 25 người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người tỷ Kip 100 người (Nguồn: Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào) 7 Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 1. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực DN này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành DN; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa. (Chu Thanh Hải,2020) Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt ở khắp nơi trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, xã hội.
Khả năng linh hoạt trong việc chuyển đổi ngành nghề, tăng giảm quy mô, số lượng lao động. - Quy mô nhỏ Theo nghị định số 16/2015/NĐ-CP Lào của Chính Phủ, các DNNVV có quy mô nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng, số người lao động dưới 100 người đối với ngành dịch vụ, dưới 200 người đối với nhóm ngành Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản và nhóm ngành Công nghiệp và xây dựng. Như vậy DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về nguồn vốn, số lượng lao động, có mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy nhiên với 8 quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, tính linh hoạt cao rất phù hợp cho phát triển dân doanh.
DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. - Tính linh hoạt cao DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc DNNVV có nguồn vốn thấp do đó dễ chuyển đổi loại hình kinh doanh, phương án đầu tư, “sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại. Mặt khác, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tư vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy cảm với biến động của thị trường và khả năng phản ứng lại thị trường linh hoạt, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.” - Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản.
“Không có sự phân tầng rõ rệt giữa các phòng ban và tính chuyên môn hoá chưa cao. Tuy nhiên đây cũng là 1 lợi thế của DNNVV do chi phí cho hoạt động tổ chức, quản lý tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt ý tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian.” - Năng lực tài chính còn yếu: Có DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. “Lý do trước hết là do trình độ quản lý và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Thông thường các DNNVV đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng.Nhưng lại lơ là về vấn đề tài chính 9 hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán.
Hầu như trong các DNNVV hiện nay của Lào thường thiếu vị trí giám đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp do kế toán trưởng đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá tài chính, quyết định kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của công ty. - Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay trên thị trường phi tài chính. Cùng với các kênh trên, khá nhiều chương trình, dự án hỗ trợ tín dụng nói chung và hỗ trợ tín dụng cho DNNVV nói riêng đã được xây dựng và triển khai như: Chương trình ưu đãi tài chính cho ngành công nghiệp hỗ trợ; Chương trình bảo lãnh vay vốn cho dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại các DNNVV từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia.
Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này được giải thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khó khăn cho mở rộng thị trường. - Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính: Thứ nhất, khu vực này thường bị thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như cho xuất khẩu và đặc biệt là chưa tiếp cận được công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp.
Điều này cũng xuất phát từ chính đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, thường không có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực công nghệ thông tin vì các DNNVV thường chỉ chú ý vào các hoạt động tác nghiệp, giành rất ít thời 10 gian cho các hoạt động cải tiến và chiến lược. Điều này cản trở họ tiếp cận các công nghệ mới nhất. Thứ hai, là DNNVV thường không biết các nguồn thông tin mà họ nên tham khảo. Điều này khiến họ tụt hậu về công nghệ.
Thứ ba, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ đòi hỏi thay đổi nhiều về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm. Nó làm thay đổi từ bên trong tổ chức. Việc doanh nghiệp tụt hậu về công nghệ do hạn chế về tổ chức và tầm nhìn chiến lược thích đáng. Do thiếu thông tin, năng lực tài chính chưa đảm bảo minh bạch là trở ngại lớn cho các DNNVV khi tham gia thị trường tài chính.
Họ chưa đủ lớn để phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khoán. - Khả năng tiếp cận thị trường kém: Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước còn nhiều hạn chế, thường chưa nắm bắt, khai thác và đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do công nghệ lạc hậu, nên các sản phẩm của các DNNVV thường chỉ cung cấp sản phẩm thông dụng, chưa có những sáng tạo đột phá để tăng tính cạnh tranh và kích thích tiêu dùng.Lại thêm quy mô nhỏ bé, năng lực sản xuất chưa cao, hạn chế về vốn, thiếu khả năng xây dựng triển khai kế hoạch tiếp thị sản phẩm nên DNNVV gặp nhiều khó khăn để cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV khiến mạng lưới phân phối sản phẩm còn bó hẹp.
Cơ sở lý luận về cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Cho vay là một trong các hình thức cấp tín dụng cho khách hàng. Khái niệm "cấp tín dụng" được định nghĩa tại khoản 18, điều 8, Luật Doanh nghiệp 11 Lào sửa đổi bổ sung năm 2019 như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong các nghiệp vụ cấp tín dụng thì nghiệp vụ cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM, nguyên nhân vì cho vay là hoạt động có tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, chiếm trọng lệ cao nhất trong hoạt động cấp tín dụng cũng như đầu tư và tạo thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.