Chương 1 và nối tiếp sự triển khai của Chương 2 trong việc nhận định mô hình văn bản văn học về mặt cấu hình, nhiệm vụ của Chương 3 là khám 14 phá tính chất của mô hình văn bản văn học đã được định hình bằng các yếu tố cấu hình ở Chương 2. Nói cách khác, Chương 3 đặt ra vấn đề xác định tính chất và nội dung mô hình hóa thế giới hiện thực của văn bản văn học thông qua hai yếu tố: cốt truyện và điểm nhìn. MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC Nghiên cứu văn học theo khuynh hướng của Chủ nghĩa cấu trúc nhìn chung đã đạt được những thành tựu đáng kể. Theo Nguyễn Hưng Quốc: “Cấu trúc luận, vốn thịnh hành trong thập niên 1960 và nửa đầu thập niên 1970, được xem là một cuộc cách mạng, thậm chí, là cuộc cách mạng lớn nhất trong lãnh vực nghiên cứu văn học cũng như các ngành nhân văn và khoa học xã hội nói chung trong thế kỷ 20” (Nguyễn Hưng Quốc, n.
Bên cạnh những tên tuổi như: J.Lotman được xem là người có đóng góp không nhỏ cho Chủ nghĩa cấu trúc và cả Ký hiệu học ở Nga nói riêng và trên thế giới nói chung. Có thể cho rằng Iu.Lotman luôn theo đuổi lập trường của phương pháp cấu trúc trong các nghiên cứu của ông. Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, nỗ lực của ông là kết nối phương pháp cấu trúc với ký hiệu học nhằm làm cho nó trở nên linh hoạt hơn. Với sự kết nối cấu trúc - ký hiệu học, Iu.Lotman đã có những bước tiến xa hơn so với những gì mà chủ nghĩa cấu trúc đã đạt được.
Là “chủ soái” của trường phái cấu trúc - ký hiệu học Tartu, hoạt động khoa học của Iu.Lotman xoay quanh nhiều lĩnh vực: văn học, ký hiệu học, văn hóa học… Xem “văn bản không phải là một cái bọc đựng nghĩa một cách thụ động, mà là tổ chức truyền đạt, lưu giữ và sáng tạo thông tin” (Lotman, Iu., 2016), ông nhìn nhận văn bản với tư cách là một ký hiệu và nhấn mạnh vai trò của việc tiếp cận văn bản theo cách ký hiệu học. Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học và phương pháp nghiên cứu của Iu.Lotman Nền tảng phương pháp luận của Iu.Lotman bắt nguồn từ Chủ nghĩa cấu trúc.Lotman kêu gọi việc xây dựng nghiên cứu văn học thành một ngành khoa học cũng từ cơ sở của phương pháp cấu trúc. Điều này từng là nguyên nhân của một cuộc bút chiến xoay quanh việc nghiên cứu bằng phương pháp cấu trúc. Do đó, chúng tôi cho rằng tìm hiểu sự ra đời cũng như đối tượng nghiên cứu cụ thể của chủ nghĩa cấu trúc trong văn học là nền tảng để hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu của Iu.Lotman trong sự kết nối cấu trúc luận với ký hiệu học để tạo ra một “phép lai”: cấu trúc - ký hiệu học.
Sự ra đời của Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học 16 Có thể nói, sự xuất hiện của Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) đã mở ra một hướng đi mới trên con đường nghiên cứu văn học. Các nhà cấu trúc luận, với phương pháp nghiên cứu của mình, đều có tham vọng khám phá được bản chất của đối tượng nghiên cứu mà Chủ nghĩa cấu trúc hướng đến. Cái bản chất ấy, nói theo các nhà ngôn ngữ học thì chính là một thứ “ngôn ngữ” của văn học. Trên tiến trình của sự phát triển, có thể cho rằng Chủ nghĩa cấu trúc là sự tiếp nối trên con đường mà Chủ nghĩa hình thức đã vạch ra.
Nói về Chủ nghĩa hình thức, Jean-Yves Tadié1 cho rằng “trường phái cách tân nhất thế kỷ XX này cũng là trường phái có số phận kỳ lạ nhất” (Huỳnh Như Phương, 2007). Dù đứng giữa những luồng nhận định mà phần lớn là phê phán và chỉ trích, thậm chí có lúc lên án, song chính Trường phái hình thức Nga đã đánh một dấu mốc quan trọng trên tiến trình phát triển của lĩnh vực nghiên cứu văn học ở Nga nói riêng và trên thế giới nói chung. Nó tồn tại trong vị thế đối đầu với những giáo điều truyền thống vốn đã được áp đặt từ lâu, và cả với những tranh luận về nghiên cứu văn học đường thời. Kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình, Chủ nghĩa hình thức Nga lại trở thành cơ sở để mở ra nhiều hướng tiếp cận đối với lĩnh vực nghiên cứu văn học.
Như một nghịch lý, các khuynh hướng nghiên cứu khác, dù có thể không kế thừa những thành tựu mà Chủ nghĩa hình thức để lại, nhưng bản thân Chủ nghĩa hình thức cũng trở thành động lực cho các khuynh hướng nghiên cứu ấy phát triển, trên cơ sở chống lại nó. Với các dấu ấn mà Trường phái hình thức Nga để lại, Chủ nghĩa cấu trúc Tiệp Khắc được hình thành trên cơ sở câu lạc bộ ngôn ngữ học Praha (thành lập tháng 10 năm 1926).Jakobson - một trong những người tiên phong của Chủ nghĩa hình thức - được xem như một dấu gạch nối. Đó cũng là khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa cấu trúc. Một cột mốc quan trọng đánh dấu sự thịnh hành của Chủ nghĩa cấu trúc là năm 1960, khi Claude Lévi-Strauss công bố luận văn Cấu trúc và hình thức: những phản ánh trong tác phẩm của Vladimir Propp.
“Tác phẩm của Vladimir Propp” được đề cập ở đây chính là công trình Hình thái học truyện cổ tích. 1 Jean-Yves Tadié: nhà nghiên cứu người Pháp, tác giả chuyên luận Phê bình văn học thế kỷ XX, giáo sư ngành kiến trúc Trung Cổ và ngôn ngữ hiện đại tại Đại học Oxford. Sau đó, cho đến khi nghỉ hưu, ông giảng dạy tại Đại học Paris-Sorbonne. 17 Bằng việc nghiên cứu các quy luật vận động nội tại của truyện cổ tích thần kỳ, Hình thái học truyện cổ tích được xem như đã đặt bước chân đầu tiên trên con đường nghiên cứu văn học bằng phương pháp cấu trúc.
Cũng từ đây, Chủ nghĩa cấu trúc bắt đầu thực hiện sứ mệnh của nó trong lĩnh vực nghiên cứu văn học. Tuy nhiên cần nói rằng trước đó tư tưởng cấu trúc đã được vận dụng trong các ngành khoa học tự nhiên. Theo Bogusław Żyłko2, quan điểm về cấu trúc đã bắt đầu chiếm ưu thế ở các ngành hóa học, sinh học và di truyền học từ thế kỷ XIX. Huỳnh Như Phương trong công trình Trường phái hình thức Nga cũng đề cập đến việc toán học, logic học, vật lý học, sinh vật học và nhiều ngành khoa học xã hội từ lâu đã quan tâm đến khái niệm cấu trúc và vận dụng các phương pháp của Chủ nghĩa cấu trúc trước khi Claude Lévi-Strauss xuất hiện.
Dưới góc nhìn của Chủ nghĩa cấu trúc, các đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học tự nhiên như: vật thể hóa học, sinh thể, đặc điểm di truyền không còn được xem xét chỉ như là một tổng thể của các bộ phận. Theo đó, khái niệm cấu trúc không thể tách rời mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể. Khi phương pháp cấu trúc được áp dụng trong Vật lý học, nó giả định rằng: “thế giới được cấu thành từ các vật thể khó có thể quan sát được, trong đó các mối quan hệ nhất định được đặt vào, và chúng ta chỉ có thể tiếp cận với những mối quan hệ đó” (Bogusław Żyłko, 2014). Như vậy, có thể thấy rằng ngay từ lĩnh vực Vật lý thì phương pháp cấu trúc đã nhấn mạnh đến các mối quan hệ nội tại được đặt vào các vật thể, và nhà nghiên cứu cũng chỉ có thể tiếp cận các mối quan hệ ấy.
Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, chúng tôi cho rằng Chủ nghĩa cấu trúc được xây dựng dựa trên ba nền tảng chính. Thứ nhất, Chủ nghĩa cấu trúc bắt nguồn từ lý thuyết ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure. Saussure đặt ngôn ngữ trong phạm vi nghiên cứu của Ký hiệu học (Semiotic), ông cho rằng ngôn ngữ (language) là một hệ thống ký hiệu (sign system). Trong đó, mỗi ký hiệu (sign) là sự thống nhất của hai mặt không thể tách rời, 2 Bogusław Żyłko: người đứng đầu khoa Ký hiệu học văn hóa và Giao tiếp liên văn hóa tại Đại học Gdansk, Ba Lan.
Ngoài vô số các bài viết về nhiều đề tài đã được phổ biến bằng một số ngôn ngữ, ông đã viết hai cuốn sách bằng tiếng Ba Lan về ký hiệu học văn hóa và di sản của Yuri Lotman. 18 cũng như hai mặt của một tờ giấy: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified). Sự thống nhất của hai mặt này được thiết lập dựa trên nguyên tắc võ đoán, tức là không có lý do, không có mối liên hệ tự nhiên nào giữa chúng. Xem ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, Saussure đưa ra sự phân biệt giữa ngôn ngữ (language) và lời nói (speech).
Nếu ngôn ngữ có tính chất xã hội: “đó là sản phẩm được kế thừa từ các thế hệ đi trước và nó phải được chấp nhận như nó vốn có” (Huỳnh Như Phương, 2010), thì lời nói có tính chất cá nhân: “là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ một cách thích hợp trong hoàn cảnh riêng của từng con người cụ thể” (Huỳnh Như Phương, 2010). Xét theo khía cạnh này thì tác phẩm văn học được xem như một dạng lời nói, đó là lời văn nghệ thuật được nhà văn vận dụng kho tàng ngôn ngữ mà sáng tạo nên. Như vậy, đằng sau dạng lời nói của tác phẩm văn học là sự chi phối nhất quán của một ngôn ngữ nào đó. Với các nhà cấu trúc luận, văn học là một hệ thống ký hiệu đặc thù được thể hiện thông qua văn bản văn học.
Chủ nghĩa cấu trúc, theo hướng đó tập trung vào việc nghiên cứu “ngôn ngữ” của văn bản văn học, tức cái cấu trúc bất biến ẩn tàng bên dưới bề mặt văn bản ngôn từ. Thứ hai, từ công trình Hình thái học truyện cổ tích của V.Propp, phương pháp cấu trúc đã được vận dụng vào lĩnh vực folklore học để nghiên cứu thể loại truyện cổ tích thần kỳ và trở thành một đột phá trong giới folklore học. Trong Trường phái hình thức Nga, Huỳnh Như Phương (2007) cho rằng: “phát kiến của Propp chứng minh rằng ngay trong lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc truyện, người ta cũng có thể rút ra được những quy luật chặt chẽ”. Trong bài viết Cấu trúc truyện cổ tích, Propp nêu rõ: Chúng tôi tiến hành việc so sánh các truyện cổ tích này về mặt đề tài, và để so sánh, chúng tôi tách ra những bộ phận cấu thành của truyện cổ tích thần kì theo những thủ pháp riêng, sau đó chúng tôi so sánh các bộ phận cấu thành của các truyện cổ tích.