Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây hoa hồng lửa và hồng nhung 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại thực vật Cây hoa hồng (Rosa sp.) thuộc Họ Hồng Rosaceae. Trong hệ thống phân loại thực vật, hoa hồng được xếp vào ngành thực vật hạt kín Angiospermes, lớp Hai lá mầm Dicotyledonae, bộ Hoa hồng Rosales có nguồn gốc ôn đới va 4 nhiệt đới ở vùng Bắc bán cầu. Có nguồn gốc đầu tiên ở Trung Quốc, An Độ. Sau đó, hoa hồng được du nhập vào các nước châu Âu như Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari và một số nước khác.
Trong quá trình lai tạo, người châu Âu đã tạo ra các giỗng hoa hồng hiện đại. Trong tự nhiên, giống hoa hồng có 150 loài phân bố khắp bán cầu Bắc, từ Alaska cho đến Mexico và cả Bắc Phi. Trung Quốc là nơi đầu tiên thuần hóa hoa hồng (Minh Nguyên, 2013). Hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất có thể tới vài chục triệu năm.
Ở Việt Nam, hoa hồng được nhập nội từ các nước châu Âu (Hà Lan, Pháp), Trung Quốc vào Đà Lạt, sau đó được trồng phô biến tại các tỉnh miền Nam, miền Bắc (Viện nghiên cứu Rau Quả, Viện di truyền) và lan ra cả nước. Bên cạnh đó, các giống hoa hồng được nhập nội từ Thái Lan trực tiếp vào miền Nam, sau đó lan ra Bắc và trồng khắp mọi nơi trên cả nước (Đỗ Đình Thục, 2009).2 Đặc điểm thực vật học Cây hoa hồng có rễ chùm, phân bố chủ yếu trên tang đất mặt và phát triển mạnh theo chiều ngang, khi bộ rễ phat trién tương đối hoàn chỉnh thì phát sinh thêm nhiều rễ phụ. Thân cây hoa hồng thuộc nhóm cây thân gỗ, cây bụi thấp, thắng có nhiều cành và gai nhọn, cong. Lá hoa hồng là lá kép lông chim, mọc cách, có lá kèm nhan ở cuống lá.
Trên mỗi lá chét có từ 3 — 5 hay 7 — 9 lá chét, xung quanh lá chét có nhiều răng cưa nhỏ. Hoa có nhiều màu sắc và kích thước khác nhau. Hoa hồng đỏ có mùi thơm nhẹ, cánh hoa mềm dé bị dap nát và gãy. Cụm hoa chủ yếu có một hoa hay một tập hợp ít hoa trên cuống dài, cứng, có gai.
Hoa lớn có cánh dài hợp thành chén ở gốc, xếp thành một hay nhiều vòng, xiết chặt hay lỏng tùy theo giống. Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính. Nhị đực va nhụy cái trên cùng một hoa. Các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhùy.
Khi phan chín rơi trên đầu nhụy nên có thé tự thụ phan. Dai hoa có màu xanh (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Hoa hồng lửa có màu đỏ tươi thắm, thường ra hoa với dạng chùm và có mùi thơm dịu nhẹ. Hoa hồng nhung có màu đỏ thẫm và sẽ chuyền sang màu đỏ đen huyền bí khi tiết trời se lạnh, hồng nhung có mùi thơm nhẹ và ra hoa đơn trên một cành.
Quả hoa hồng có hình trái xoan có cánh đài còn lại. Hạt hồng nhỏ có lông, khả năng nảy mâm của hạt rât kém do có lớp vỏ dày.3 Điều kiện sinh thái Nhiệt độ thích hợp cho hoa hồng sinh trưởng và phát triển là từ 18 — 25°C vì hoa hong là cây có nguồn gốc ôn đới. Nhiệt độ tối cao trên 35°C sẽ làm ảnh hưởng đến sự kéo đài cành, độ bền hoa. Nhiệt độ tôi thấp dưới 8°C làm cho cây thấp, cành nhánh phát sinh yếu, lá giòn, nụ hoa dé bị thui chột hay nở muộn, nở không đều do cây không khai thác được đinh dưỡng trong đất và không khí (Nguyễn Thi Kim Lý va ctv, 2012).
Cây hoa hồng yêu cầu độ âm không khí từ 80 - 85%. Độ ẩm trong đất khoảng 60 - 70%. Cây hoa hồng có bộ tán và lá rậm rạp nên diện tích phát tán hơi nước trong đất rat lớn. Kiểm soát được độ âm thích hợp, chiều dài cành sẽ tăng trung bình là 8,2%.
Hoa hồng là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt. Nếu thiếu ánh sáng cây sẽ bị tiêu hao chất dự trữ trong cây. Khi cây còn nhỏ, yêu cầu về cường độ ánh sáng thấp hơn, khi cây lớn yêu cầu về ánh sáng nhiều hơn (Đào Thị Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Thường hoa có chất lượng tốt ở cường độ chiếu sáng cao 40.000 lux, thời gian chiếu sáng tối thiểu 8h/ngày (Nguyễn Thị Kim Lý và ctv, 2012).
Dat thích hợp cho hoa hồng là dat thịt, hoặc đất thịt nhẹ, đất luôn âm nhưng không ướt nên chọn những nơi đất cao không bị ngập úng, đất bằng phẳng, tơi xốp thông thoáng, có độ pH = 6,0 — 6,5 (Triệu Quân Lương, 2000).2 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng đối với hoa hồng Trong các nguyên tô dinh dưỡng cần thiết cho cây không thể không nhắc đến ba nguyên tố đa lượng quan trọng, đó là đạm, lân và kali với tỷ lệ cân đối giúp cây hoa hồng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa đạt yêu cầu. Ty lệ N: P: K thích hợp cho cây hoa hồng sinh trưởng và phát triển bình thường là 18: 8: 17 (Pham Thị Minh Tâm, 2010). Dam là thành phan quan trọng, làm tăng nhanh quá trình phân chia tế bao, làm cho tế bảo phát triển nhanh về số lượng và trọng lượng, bởi vậy đạm là yếu tố quyết định sự sinh trưởng của cây. Ngoài ra, đạm còn liên quan đến kích thước, màu sắc của hoa hồng cần nhiều đạm vào thời kỳ phát sinh cành nhánh cho đến lúc phân hóa mầm hoa.
Bón thiếu hoặc thừa đạm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phat triển của cây. Hồng thiếu đạm, nụ thường bị “thui”, không ra hoa được hoặc trô hoa thì cánh cong queo và nhỏ, ít chồi non, lá vàng. Nhưng bón nhiều đạm, cành lá xum xuê, ít hoa, ngọn vượt cao, mảnh và yếu, dễ đỗ, khả năng chống chịu sâu bệnh kém. Lượng đạm Ure cần cho 1 ha hồng là 300kg.
Nhìn chung, đạm chủ yêu dùng dé bón thúc cho cây (Nguyễn Thị Kim Ly, 2012). Dam chiếm 1 — 2% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng can 15 — 25 mg N/100 g đất khô. Urea là nguồn cung cấp đạm hiệu quả nhất cho cây hoa hồng, và nên hạn chế sử dung đạm ở dạng Nitrat amon và muối sulphat (Đào Thanh Vân va Đặng Thị Tổ Nga, 2007).
Lân có tác dụng thúc đây sự sinh trưởng của bộ rễ, hoa, quả, hạt. Lân chiếm 1 — 1,4% trọng lượng chất khô của cây. Du lân, cây khỏe, cứng cáp, nhanh ra hoa, hoa lâu tàn, rễ to mập. Thiếu lân, cây tích lũy đạm dạng nitrat gây bat lợi cho việc hút nước của rễ, cây bé, lá cây thường có mau tím, tím đỏ hay mau huyết dụ, gây rụng lá, rễ yếu, chậm ra hoa, hoa khó nở, màu sắc hoa nhợt nhạt, quả lép và chín không đều.
Thừa lân làm cho bộ lá xanh đậm, dày đặc. Hồng cần lân vào thời kỳ làm nụ cho đến khi ra hoa kết quả. Lan chủ yếu dùng dé bón lót va bón thúc cho cây. Lượng lân nguyên chất (P20s) ding cho hồng là 400 kg/ha/năm (Đỗ Đình Thục, 2009) hoặc 550 — 600 kg/ha.năm (Nguyễn 5 Thị Kim Lý và ctv., 2012) tùy vùng đất.
Hoa hồng cần 20 — 50 mg PzOs va không quá 100 mg PzOs/100 g đất khô. Kali là nguyên tố cây hoa hồng sử dụng nhiều nhất, gấp 1,8 lần đạm, nhưng kali là nguyên tố có thể sử dụng lại khi ít ảnh hưởng tới sinh dục phát triển của cây so với đạm và lân. Tuy nhiên thiếu kali sinh trưởng kém, nếu thiếu quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới việc hút canxi và magiê từ đó ảnh hưởng đến độ cứng của thân cành và chất lượng hoa. Hoa hồng yêu cau lượng kali trao đổi trong đất như sau 100 g dat cần khoảng 20 — 30 mg (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Kali giúp tăng sức chống chịu với điều kiện bat lợi, chống dé ngã và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Kali thường chiếm 1,8 — 3,6% trọng lượng chất khô của cây. Canxi và magiê: là những chất trung lượng, cây cần với số lượng tương đối nhiều. Đặc biệt là canxi giúp cho bộ rễ khỏe mạnh, hấp thu nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho sự sinh trưởng của cây và năng suât hoa.
Các chất vi lượng cũng là những nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây hoa hồng và năng suất, chất lượng hoa. Đáng lưu ý là các chất sắt (Fe), mangan (Mn), kẽm (Zn), Bo (B). Cung cấp các chất vi lượng chủ yếu qua các phân bón lá (Phạm Anh Cường, 2008).3 Giới thiệu về vật liệu sử dụng làm giá thể Giá thé là nơi chứa nước và dinh dưỡng mà cây trồng có thé hap thu được gồm dat trộn, các hợp chất hữu cơ và phụ phẩm. Theo Trương Thị Cam Nhung (2016), gia thé được xem như là môi trường giúp cây đứng vững nhờ bộ rễ bám chat, cung cấp đinh dưỡng, nước, chất khoáng cho cây và điều hòa nhiệt độ nhờ khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của giá thé.
Ngày nay, việc nghiên cứu và sử dụng giá thé càng trở nên phổ biến nhờ vào các ưu điểm như hạn chế được sâu bệnh và cỏ đại có trong đất, một số giá thể hữu hiệu còn giúp duy trì độ âm và thoáng khí tốt. Một giá thể tốt, lý tưởng cho cây trồng cần phải có những yêu cầu sau: trữ lượng dinh dưỡng cao và dé dàng cung cấp cho cây. Phân bón dé dàng chuyên hóa thành dang dễ hấp thu đối với cây trồng. Khả năng giữ các chất dinh đưỡng dễ tiêu cao (hạn chế rửa trôi).
Cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng trong trạng thái cân bằng. Giữ và cung cấp nước day đủ. Duy trì độ thoáng khí tốt (Trương Thị Cam Nhung, 2016). Giá thê là hỗn hợp các thành phần được pha trộn theo tỷ lệ nhất định từ các nguyên liệu thô khác nhau, một giá thê tốt và lý tưởng cho cây trồng cần phải có những đặc điểm sau: - Kha năng dự trữ chất đinh dưỡng cao và dé đàng cung cấp cho cây, phân bón có thé chuyền hóa thành dạng dé hấp thu đối với cây trồng.
- Có khả năng giữ 4m, hút 4m nhanh và thắm nước. - Có khả năng giữ độ thoáng khí tốt. - Sạch bệnh, không có nguồn nam gây bệnh.1 Mụn dừa Mun dừa là sản phẩm của quá trình nghiền vỏ đừa. Sau khi tach, vỏ dừa được dem đi nghiền và sàng, thu được mụn dừa.
Mụn dừa sau khi tách ra khỏi vỏ dừa chưa thể sử dụng được mà cân phải qua xử lý do hàm lượng chất lignin và tanin cao.