phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về mô hình truyền thông KH&CN cho các kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình; - Chƣơng 2. Thực trạng mô hình truyền thông KH&CN cho các kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình; - Chƣơng 3. Nội dung của mô hình truyền thông KH&CN cho các kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG LĨNH VỰC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1. Thuật ngữ truyền thông 1. Khái niệm truyền thông Truyền thông là hiện tƣợng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, tác động và liên quan đến mọi cá nhân cũng nhƣ các nhóm và cộng đồng xã hội nói chung.
Truyền thông có vai trò rất quan trọng, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nƣớc ta hiện nay, truyền thông ngày càng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, động viên, nâng cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm xã hội, nâng cao kiến thức, nhận thức, thái độ về mọi mặt hoạt động của nhân dân. Các nghiên cứu trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới đã đƣa ra rất nhiều quan niệm và định nghĩa về truyền thông khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Mỗi quan niệm, định nghĩa đều có những khía cạnh hợp lý riêng.
Tuy nhiên, các quan niệm, định nghĩa khác nhau này vẫn có những điểm chung, với những nét tƣơng đồng rất cơ bản.1 Theo Nguyễn Văn Dững (2012) thì Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận 1 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông Khoa học và Công nghệ (2016), Hợp tác nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực truyền thông khoa học và công nghệ của Việt Nam, Đề tài Nghị định thƣ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội. Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông: Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính (SMCRFN): - Nguồn (source/sender – S): là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xƣớng quá trình truyền thông. Nguồn phát là một ngƣời hay một nhóm ngƣời mang nội dung thông tin trao đổi với ngƣời hay nhóm ngƣời khác.
- Thông điệp (message – M): là nội dung thông tin đƣợc trao đổi từ nguồn phát đến đối tƣợng tiếp nhận. Thông điệp chính là tâm tƣ, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật. đƣợc mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống ký hiệu này phải đƣợc cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu – tức là có khả năng giải mã.
Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con ngƣời đƣợc sử dụng để chuyển tải thông điệp. - Kênh truyền thông (channel – C): là các phƣơng tiện, con đƣờng, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tƣợng tiếp nhận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể của mỗi loại phƣơng tiện ngƣời ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau nhƣ: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phƣơng tiện. - Người nhận (receiver – R): là các cá nhân hay nhóm ngƣời tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Hiệu quả của truyền thông đƣợc xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tƣợng tiếp nhận cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tƣợng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tƣơng tác và đan xen vào nhau. Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trƣớc. - Phản hồi/Hiệu quả (Feedback/Effect – F) : là thông tin ngƣợc, là dòng chảy của thông điệp từ ngƣời nhận trở về nguồn phát.
Mạch phản hồi là thƣớc đo hiệu quả của hoạt động truyền thông. Trong một số trƣờng hợp, mạch phản hồi bằng không hoặc không đáng kể. Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạo đƣợc sự quan tâm của công chúng. - Nhiễu (Noise – N): là các yếu tố gây ra sự sai lệch không đƣợc dự tính trƣớc trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật.) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch.
Quá trình truyền thông còn tính đến hai yếu tố nữa, đó là hiệu lực và hiệu quả truyền thông. Hiệu lực có thể hiểu là khả năng gây ra và thu hút sự chú ý cho công chúng – nhóm đối tƣợng truyền thông. Hiệu quả là những hiệu ứng xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tƣợng do truyền thông tạo ra, phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông. Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau.
Phân loại truyền thông Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau cho truyền thông. * Căn cứ vào tính chủ đích trong truyền thông có thể phân ra thành truyền thông kinh nghiệm, truyền thông không chủ đích và truyền thông có chủ đích. - Truyền thông kinh nghiệm: là loại hoạt động truyền thông đƣợc thực hiện nhƣ là những kinh nghiệm, hoặc kết quả của những kinh nghiệm đƣợc hình thành trong quá trình sống của các cá nhân, nhóm, cộng động. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Truyền thông có chủ đích: là loại hoạt động truyền thông có mục đích, đƣợc xác định rõ ràng với kế hoạch, quá trình truyền thông.
Truyền thông có chủ đích bao giờ cũng xuất phát từ mục đích của những ngƣời tham gia vào hoạt động truyền thông. Có nhiều nhóm mục đích khác nhau nếu có nhiều cá nhân/nhóm cùng tham gia vào hoạt động truyền thông. Các hoạt động truyền thông đƣợc thực hiện bởi các nhà truyền thông chuyên nghiệp luôn là hoạt động truyền thông có chủ đích. - Truyền thông không chủ đích: là loại hoạt động truyền thông không có mục đích cụ thể, hoặc tạo ra những kết quả ngoài mục đích của những ngƣời tham gia truyền thông.
Loại truyền thông này chủ yếu là hoạt động giao tiếp hàng ngày, ngẫu nhiên của con ngƣời hoặc các nhóm bạn bè. Nhìn chung, truyền thông không chủ đích là loại hoạt động truyền thông không xảy ra đối với các nhà truyền thông chuyên nghiệp. * Căn cứ vào kênh chuyển tải thông điệp và phương thức tiến hành truyền thông có truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp. - Truyền thông trực tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó có sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt giữa những ngƣời tham gia truyền thông (giữa chủ thể và nhóm đối tƣợng truyền thông).
Truyền thông trực tiếp có thể là truyền thông 1-1 (2 ngƣời truyền thông trong bối cảnh gặp gỡ trực tiếp), truyền thông 1- 1 nhóm (ví dụ: thầy giáo giảng bài trong một lớp học), truyền thông trong nhóm (ví dụ: thảo luận nhóm nhỏ trong một hội thảo)… Một số loại hình trực tiếp biểu diễn hay sân khấu với khán giả trực tiếp hoặc diễn thuyết trƣớc đám đông cũng thuộc nhóm truyền thông trực tiếp. - Truyền thông gián tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó những chủ thể truyền thông không tiếp xúc trực tiếp với đối tƣợng tiếp nhận mà thực hiện quá trình truyền thông nhờ sự hỗ trợ của ngƣời khác (mang tính chất trung gian) hoặc các phƣơng tiện truyền thông khác, tức là dùng phƣơng tiện kỹ thuật (hoặc con ngƣời) làm lực lƣợng trung gian truyền dẫn thông điệp. Ví 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụ: truyền thông nhờ sự hỗ trợ của bƣu điện (gửi một bức thƣ, nói chuyện qua điện thoại…), nhờ sự hỗ trợ của internet (chat, chat voice, webcam, email, forum…), truyền thông qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng nhƣ báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, các website… * Căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông có thể phân thành truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng. - Truyền thông nội cá nhân: là quá trình truyền thông diễn ra trong mỗi cá nhân do tác động của môi trƣờng bên ngoài.
Truyền thông nội cá nhân của mỗi cá nhân càng tích cực bao nhiêu, quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm càng cao bấy nhiêu. Đó là biểu hiện cụ thể của năng lực tƣ duy chủ động, tích cực. Dạng thức truyền thông này diễn ra thƣờng xuyên, liên tục ở mỗi cá nhân. - Truyền thông liên cá nhân: là loại hoạt động truyền thông trong đó các cá nhân tham gia tổ chức, thực hiện việc trao đổi thông tin, suy nghĩ, tình cảm… tạo ra sự hiểu biết và những ảnh hƣởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi.
Đó là quá trình thông tin – giao tiếp và liên kết các cá nhân, chịu tác động và ảnh hƣởng lẫn nhau. - Truyền thông nhóm: là loại hoạt động truyền thông đƣợc thực hiện và tạo ảnh hƣởng trong phạm vi từng nhóm nhỏ hoặc các nhóm xã hội cụ thể. Thông thƣờng truyền thông nhóm đƣợc phân chia thành hai loại chính: truyền thông 1 - 1 nhóm, giữa các nhóm và truyền thông trong nhóm. Khác với truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm đòi hỏi kỹ năng giao tiếp ở cấp độ cao hơn, khả năng liên kết rộng hơn.
Truyền thông 1 - 1 nhóm là loại hoạt động truyền thông trong đó nhà truyền thông hƣớng hoạt động của mình vào một nhóm xã hội nào đó, với các tác động có chủ đích. Khái niệm “nhóm” trong truyền thông 1 - 1 nhóm cũng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể bao hàm “nhóm lớn”, “nhóm nhỏ”. Nhìn chung phạm vi nhóm nhỏ đƣợc sử dụng nhiều hơn trong các kỹ năng truyền thông 1 - 1 nhóm.