Đặt vấn đề Việt Nam có diện tích đất đồi núi chiếm 3/4 tổng diện tích đất tự nhiên, do vậy lâm nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng. Ngành lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất tham gia vào tái sản xuất xã hội. Hàng năm một phần trong tổng số sản phẩm do lâm nghiệp sản xuất ra dưới dạng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Ngoài ra rừng còn có tác dụng bảo vệ môi trường sống, cảnh quan văn hóa xã hội, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của môi trường đất, nước, khí hậu, tiêu giảm bụi và tiếng ồn…Bên cạnh đó ngành lâm nghiệp còn tạo ra nguồn thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, đặc biệt là vùng trung du miền núi.
Trám đen (Canarium tramdenum) là cây lâm đặc sản có giá trị kinh tế cao và có ý nghĩa quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo của người dân ở các tỉnh như: Thái Nguyên, Nghệ An, Tuyên Quang… làm giàu rừng và cải tạo vườn tạp. Gỗ dùng xẻ ván, làm nhà, đóng dụng cụ thông thường. Nhựa cây Trám đen thơm ngát, dễ cháy, dùng để chế biến sơn, vecni, xà phòng, dầu thơm và làm hương. Quả cây Trám đen ăn ngon nhất trong các loại Trám, dùng để: kho cá, kho thịt, đồ xôi, có thể muối để ăn dần (thường ngâm trong nước mắm), quả Trám đen dùng giải độc, chữa ăn nhầm cá nóc có độc, ăn phải cá thối, hóc xương cá, chữa nứt nẻ da do khô lạnh lở ngứa nhất là lở miệng không há ra được và trị sâu răng.
Rễ dùng trị phong thấp đau lưng gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi. Hà Châu là một xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Là một xã nhỏ nằm sát con sông Cầu thuộc vùng trung du Bắc bộ ở phía Tây Nam của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên việc áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất còn e 2 hạn chế nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Mặt khác tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gây nên những vấn đề bức thiết ở địa phương. Trong những năm qua nhờ sự quan tâm của Đảng, nhà nước và sự đồng tình của người dân, với những kinh nghiệm sẵn có người dân đã trồng cây Trám đen tăng thêm thu nhập cho người dân, ở một số hộ cây Trám đen trở thành cây thu nhập chính cho và trở thành cây làm giàu của nhiều hộ gia đình ở nơi đây. Do hợp thổ nhưỡng nên quả Trám đen trồng ở Hà Châu rất đặc biệt: bùi, thơm, chặt thịt hơn hẳn Trám đen được trồng ở các địa phương khác, bởi thế Trám đen đã trở thành đặc sản của mảnh đất này.
Đến kỳ thu hoạch, người dân hầu như không phải mang ra chợ, tư thương về đặt mua tận nhà, thậm chí còn đặt mua cả cây khi Trám đen bắt đầu đơm quả. Nhiều người ở tận Hà Nội, Hải Phòng cũng tìm đến Hà Châu mua Trám đen. Tuy nhiên, cây Trám đen ở Hà Châu được trồng bằng hạt trung bình từ 7-8 năm cây Trám đen mới cho quả, khi trồng bằng hạt có Trám đen cái và Trám đen đực nhiều hộ trồng được 7-8 năm cây không cho quả phải chặt đi tốn thời gian trồng và chăm sóc, hiệu qủa kinh tế không ổn định, cây cao khó khăn cho việc thu hái quả. Ở xã chưa có mô hình trồng Trám đen theo hướng thâm canh tăng năng suất, chưa sử dụng cây Trám đen ghép để trồng để thay thế phương thức trồng bằng hạt.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban Chủ Nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và xây dựng mô hình trồng Trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng Trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã Hà Châu - Phú Bình - Thái Nguyên. - Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật tác động cho các mô hình trồng Trám đen ghép đạt hiệu quả.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Trong học tập thì việc tiếp cận với thực tiễn là rất quan trọng. Việc tiếp cận thực tiễn giúp cho sinh viên củng cố lý thuyết và áp dụng vào thực tế. - Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
- Có ý thức về tầm quan trọng của công tác nghiên cứu trong cuộc sống - Làm quen với công việc của một số cán bộ Lâm nghiệp. Có thể làm tốt công việc trong tương lai. - Nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được quá trình sản xuất và tác động của người dân tới điều kiện ngoại cảnh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
- Đánh giá được thực trạng trồng Trám đen và xây dựng được mô hình trồng Trám đen ghép nhằm phát huy hiệu quả kinh tế của Trám đen tại địa phương. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan và cơ sở khoa học đối tượng nghiên cứu 2. Tổng quan đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cây Trám đen ghép (Canarium tramdenum) thuộc chi Trám (Canrium), họ Trám (Bureraceae), bộ Cam (Rutales).
Tên chi Canarium có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Á. Cây Trám đen còn có một tên gọi khác như: Ở Anh, Pháp… Gọi là Ô liu trắng ở Trung Quốc, ở Thái Lan gọi là Sam chim và có tên thương mại là Ô liu Trung Quốc. Ở Việt Nam đa số các tỉnh gọi Trám đen, ở Nam Bộ gọi Trám là Cần, người Khơ me gọi là Khana. Đặc điểm phân bố Thế giới: Trám đen phân bố ở: Trung Quốc (Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan.
Việt Nam: cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Việt Nam. Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen mọc nhất là: Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen mọc là: Quảng Nam, Đắk Lắk và Khánh Hoà. Đặc điểm hình thái Cây Trám đen là cây gỗ lớn có thể cao 25m, đường kính 120cm, tán rộng từ 10-18m.
Thân tròn thẳng, vỏ xám trắng, lúc già bong vẩy nhỏ. Vạc vỏ đẽo có nhựa thơm hơi đục. Lá Trám đen giai đoạn cây mạ là lá đơn xẻ thùy, lá đơn nguyên mép. Sau đó là lá kép lông chim một lần lẻ, có từ 7-13 lá chét, lá chét hình trái xoan thuôn hoặc hình trứng dài 6-15cm, rộng 2,5-5,5cm đầu nhọn dần, đuôi lệch e 5 mép nguyên, mặt dưới lá thường có nhiều vẩy sáp trắng.
Gân bên 12-16 đôi. Có lá kèm nhỏ sớm rụng. Hoa tự viên chùy hoặc chùm ở lách lá gần đầu cành, thường ngắn hơn lá. Hoa đơn tính mọc cùng gốc trên trục hoa.
Hoa có màu trắng hoặc trắng vàng, đài dài 2,5-3mm hợp gốc, ở hoa đực mép ống dài có 3 răng, nhị 6 hợp gốc, ở hoa cái chỉ nhị đều hợp. Quả hạch hình trái xoan dài 2,5-3,5cm, khi chín có màu đen, hạch thường có 6 múi, 2 đầu nhọn. Đặc điểm sinh thái Cây Trám đen phù hợp với hầu hết các loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến đất sét nhẹ, mùn còn khá, tầng đất dày trên 50cm, thoát nước và còn tính chất đất rừng. Độ pH thích hợp 4-5.
Trong tự nhiên Trám đen thường xuất hiện ở những nơi ven sông suối. Cây Trám đen phù hợp với nhiệt độ trung bình năm 21-250, lượng mưa bình quân năm 1500-2000mm. Cây Trám đen là loài cây mọc nhanh, ưa sáng, mọc tốt khi xen kẽ với các loài cây (Hu đay, Đom đóm…). Trong rừng tự nhiên thường chiếm ở tầng trên nhưng trong giai đoạn 2 năm đầu cần phải che bóng, sau đó hoàn toàn ưa sáng, là loài cây chịu nhiệt kém, thoát hơi nước mạnh.
Cây trồng 7-8 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì sau 3 năm có thể sẽ ra hoa. Cây ra hoa vào tháng 2-3, quả chín vào tháng 9-10. Giá trị kinh tế Gỗ cây Trám đen có màu trắng xám, mềm nhẹ, dễ làm, dễ gia công chế biến có thể sử dụng làm gỗ xây dựng, gỗ dán lạng, làm gỗ trụ mỏ, dùng làm bột giấy và đóng đồ mộc thông thường, gỗ thuộc nhóm 6. Ngày nay Trám đen được trồng không phải với mục đích lấy gỗ là chính mà trồng để lấy quả và nhựa cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
Nhựa Trám đen e 6 được dùng trong công nghiệp thực phẩm, chế biến xà phòng, mỹ phẩm, sơn tổng hợp, giấy và hương… Quả cây Trám đen có thể làm thực phẩm, sản xuất ô mai, làm thuốc chữa bệnh (ho, đau răng, miệng khô khát nước, dị ứng sơn…). Hạt Trám đen có lượng tinh dầu 20-25%, có thể ép dầu làm nhân bánh, dầu dùng trong công nghiệp. Trong 100kg nhựa Trám đen có thể lấy được 18-20kg tinh dầu và 50-60kg Colophan (gần nhựa Thông nhưng khả năng cung cấp của nhựa Trám đen cao hơn). Một cây Trám đen có đường kính trên 20cm có thể cho 10-15kg nhựa một năm.
Là cây trồng bóng mát, vườn rừng nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nếu Trám đen trồng làm giàu rừng trong các loại hình phục hồi rừng hoặc trong các vườn rừng với số lượng 50 cây/ha sau 8-10 năm có thể thu hoạch 20-25kg quả/cây/năm và 10-15kg nhựa/cây/năm. Cơ sở khoa học Ngày nay nhân giống vô tính dạng rất phát triển và được áp dụng nhiều trong công tác nhân giống cây trồng nông lâm nghiệp. Ghép là một phương pháp nhân giống vô tính, được thực hiện bằng sự kết hợp của một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây khác, để tạo thành một tổ hợp ghép cùng sinh trưởng và phát triển như một cây thống nhất.
Khi ghép một bộ phận của cây giống (mắt ghép, cành ghép) được gắn vào gốc của cây khác (gốc ghép) để tạo thành một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của cây lấy cành ghép ban đầu. Do sự tiếp xúc chặt chẽ giữa các tượng tầng của gốc ghép và cây ghép, đồng thời có sự hoạt động và tái sinh của mô phân sinh tượng tầng làm cho gốc ghép và cành ghép gắn liền với nhau. Cây ghép sẽ phát triển thành một thể thống nhất. * Cây ghép thường có những đặc điểm: - Khả năng duy trì giống tốt: những cây ăn quả được trồng từ hạt thường không giữ được đặc tính tốt của cây mẹ.