Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và xây dựng mô hình trồng trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã hà châu huy ện phú bình tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và xây dựng mô hình trồng trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

69
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan và cơ sở khoa học đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tổng quan đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Đặc điểm phân bố

2.1.3. Đặc điểm hình thái

2.1.4. Đặc điểm sinh thái

2.1.5. Giá trị kinh tế

2.1.6. Cơ sở khoa học

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Mô hình trồng trám đen ghép tại Hà Châu Phú Bình Thái Nguyên

Mô hình trồng trám đen ghép tại Hà Châu, Phú Bình, Thái Nguyên được xây dựng nhằm đánh giá thực trạng và hướng dẫn cấp hộ gia đình. Mô hình này tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật trồng trám hiện đại, thay thế phương pháp trồng bằng hạt truyền thống. Trám đen ghép có ưu điểm vượt trội như thời gian ra quả nhanh hơn, năng suất cao hơn và ổn định hơn. Đây là giải pháp hiệu quả để cải thiện thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời góp phần vào nông nghiệp bền vững.

1.1. Đánh giá thực trạng trồng trám đen

Đánh giá thực trạng trồng trám đen tại Hà Châu cho thấy, phương pháp trồng bằng hạt truyền thống có nhiều hạn chế. Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch kéo dài 7-8 năm, tỷ lệ cây không ra quả cao do hiện tượng cây đực. Trám đen ghép được đề xuất như một giải pháp thay thế, giúp rút ngắn thời gian thu hoạch và tăng hiệu quả kinh tế. Mô hình này cũng giúp người dân tiếp cận với kỹ thuật trồng trám hiện đại, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

1.2. Hướng dẫn cấp hộ gia đình

Hướng dẫn cấp hộ gia đình trong mô hình trồng trám đen ghép bao gồm các bước từ chọn giống, chuẩn bị đất, đến chăm sóc và thu hoạch. Giống trám đen được chọn lọc kỹ càng, đảm bảo chất lượng và khả năng sinh trưởng tốt. Quy trình trồng được thiết kế phù hợp với điều kiện địa phương, giúp người dân dễ dàng áp dụng. Mô hình cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc cây trámthu hoạch trám đen đúng kỹ thuật để đạt hiệu quả kinh tế tối đa.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc trám đen ghép

Kỹ thuật trồng trám đen ghép là yếu tố then chốt quyết định thành công của mô hình. Quy trình trồng bao gồm các bước như chọn giống, chuẩn bị đất, ghép cây và chăm sóc sau khi trồng. Giống trám đen được chọn phải đảm bảo chất lượng, có khả năng sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Việc áp dụng kỹ thuật trồng trám hiện đại giúp rút ngắn thời gian thu hoạch và tăng hiệu quả kinh tế cho người dân.

2.1. Quy trình trồng trám đen ghép

Quy trình trồng trám đen ghép bao gồm các bước chi tiết từ chọn giống, chuẩn bị đất, đến ghép cây và chăm sóc sau khi trồng. Giống trám đen được chọn phải đảm bảo chất lượng, có khả năng sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Việc ghép cây được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tỷ lệ sống cao và cây phát triển tốt. Quy trình này giúp người dân dễ dàng áp dụng và đạt hiệu quả kinh tế cao.

2.2. Chăm sóc và thu hoạch trám đen

Chăm sóc cây trám là yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. Các biện pháp chăm sóc bao gồm tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh và tỉa cành. Thu hoạch trám đen cần được thực hiện đúng thời điểm để đảm bảo chất lượng quả. Việc áp dụng đúng kỹ thuật trồng trám và chăm sóc cây giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người dân.

III. Lợi ích và thị trường trám đen

Lợi ích của trám đen không chỉ dừng lại ở giá trị kinh tế mà còn bao gồm cả giá trị môi trường và xã hội. Trám đen là cây lâm đặc sản có giá trị kinh tế cao, giúp cải thiện thu nhập cho người dân. Ngoài ra, cây trám còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Thị trường trám đen ngày càng mở rộng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội và Hải Phòng, nơi nhu cầu về sản phẩm này rất cao.

3.1. Lợi ích kinh tế và môi trường

Lợi ích của trám đen bao gồm cả giá trị kinh tế và môi trường. Trám đen là cây lâm đặc sản có giá trị kinh tế cao, giúp cải thiện thu nhập cho người dân. Ngoài ra, cây trám còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Việc trồng trám đen cũng giúp cải tạo đất và tăng độ phì nhiêu cho đất, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.

3.2. Thị trường và tiềm năng phát triển

Thị trường trám đen ngày càng mở rộng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội và Hải Phòng. Nhu cầu về sản phẩm này rất cao, đặc biệt là trong các dịp lễ tết. Trám đen được sử dụng trong nhiều món ăn truyền thống và có giá trị xuất khẩu cao. Việc phát triển mô hình trồng trám đen ghép tại Hà Châu, Phú Bình, Thái Nguyên không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho người dân mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho địa phương.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và xây dựng mô hình trồng trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã hà châu huy ện phú bình tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam có diện tích đất đồi núi chiếm 3/4 tổng diện tích đất tự nhiên, do vậy lâm nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng. Ngành lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất tham gia vào tái sản xuất xã hội. Hàng năm một phần trong tổng số sản phẩm do lâm nghiệp sản xuất ra dưới dạng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Ngoài ra rừng còn có tác dụng bảo vệ môi trường sống, cảnh quan văn hóa xã hội, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của môi trường đất, nước, khí hậu, tiêu giảm bụi và tiếng ồn…Bên cạnh đó ngành lâm nghiệp còn tạo ra nguồn thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, đặc biệt là vùng trung du miền núi.

Trám đen (Canarium tramdenum) là cây lâm đặc sản có giá trị kinh tế cao và có ý nghĩa quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo của người dân ở các tỉnh như: Thái Nguyên, Nghệ An, Tuyên Quang… làm giàu rừng và cải tạo vườn tạp. Gỗ dùng xẻ ván, làm nhà, đóng dụng cụ thông thường. Nhựa cây Trám đen thơm ngát, dễ cháy, dùng để chế biến sơn, vecni, xà phòng, dầu thơm và làm hương. Quả cây Trám đen ăn ngon nhất trong các loại Trám, dùng để: kho cá, kho thịt, đồ xôi, có thể muối để ăn dần (thường ngâm trong nước mắm), quả Trám đen dùng giải độc, chữa ăn nhầm cá nóc có độc, ăn phải cá thối, hóc xương cá, chữa nứt nẻ da do khô lạnh lở ngứa nhất là lở miệng không há ra được và trị sâu răng.

Rễ dùng trị phong thấp đau lưng gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi. Hà Châu là một xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Là một xã nhỏ nằm sát con sông Cầu thuộc vùng trung du Bắc bộ ở phía Tây Nam của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên việc áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất còn e 2 hạn chế nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Mặt khác tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gây nên những vấn đề bức thiết ở địa phương. Trong những năm qua nhờ sự quan tâm của Đảng, nhà nước và sự đồng tình của người dân, với những kinh nghiệm sẵn có người dân đã trồng cây Trám đen tăng thêm thu nhập cho người dân, ở một số hộ cây Trám đen trở thành cây thu nhập chính cho và trở thành cây làm giàu của nhiều hộ gia đình ở nơi đây. Do hợp thổ nhưỡng nên quả Trám đen trồng ở Hà Châu rất đặc biệt: bùi, thơm, chặt thịt hơn hẳn Trám đen được trồng ở các địa phương khác, bởi thế Trám đen đã trở thành đặc sản của mảnh đất này.

Đến kỳ thu hoạch, người dân hầu như không phải mang ra chợ, tư thương về đặt mua tận nhà, thậm chí còn đặt mua cả cây khi Trám đen bắt đầu đơm quả. Nhiều người ở tận Hà Nội, Hải Phòng cũng tìm đến Hà Châu mua Trám đen. Tuy nhiên, cây Trám đen ở Hà Châu được trồng bằng hạt trung bình từ 7-8 năm cây Trám đen mới cho quả, khi trồng bằng hạt có Trám đen cái và Trám đen đực nhiều hộ trồng được 7-8 năm cây không cho quả phải chặt đi tốn thời gian trồng và chăm sóc, hiệu qủa kinh tế không ổn định, cây cao khó khăn cho việc thu hái quả. Ở xã chưa có mô hình trồng Trám đen theo hướng thâm canh tăng năng suất, chưa sử dụng cây Trám đen ghép để trồng để thay thế phương thức trồng bằng hạt.

Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban Chủ Nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và xây dựng mô hình trồng Trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng Trám đen ghép cấp hộ gia đình tại xã Hà Châu - Phú Bình - Thái Nguyên. - Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật tác động cho các mô hình trồng Trám đen ghép đạt hiệu quả.

Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Trong học tập thì việc tiếp cận với thực tiễn là rất quan trọng. Việc tiếp cận thực tiễn giúp cho sinh viên củng cố lý thuyết và áp dụng vào thực tế. - Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.

- Có ý thức về tầm quan trọng của công tác nghiên cứu trong cuộc sống - Làm quen với công việc của một số cán bộ Lâm nghiệp. Có thể làm tốt công việc trong tương lai. - Nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được quá trình sản xuất và tác động của người dân tới điều kiện ngoại cảnh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

- Đánh giá được thực trạng trồng Trám đen và xây dựng được mô hình trồng Trám đen ghép nhằm phát huy hiệu quả kinh tế của Trám đen tại địa phương. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan và cơ sở khoa học đối tượng nghiên cứu 2. Tổng quan đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cây Trám đen ghép (Canarium tramdenum) thuộc chi Trám (Canrium), họ Trám (Bureraceae), bộ Cam (Rutales).

Tên chi Canarium có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Á. Cây Trám đen còn có một tên gọi khác như: Ở Anh, Pháp… Gọi là Ô liu trắng ở Trung Quốc, ở Thái Lan gọi là Sam chim và có tên thương mại là Ô liu Trung Quốc. Ở Việt Nam đa số các tỉnh gọi Trám đen, ở Nam Bộ gọi Trám là Cần, người Khơ me gọi là Khana. Đặc điểm phân bố Thế giới: Trám đen phân bố ở: Trung Quốc (Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan.

Việt Nam: cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Việt Nam. Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen mọc nhất là: Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen mọc là: Quảng Nam, Đắk Lắk và Khánh Hoà. Đặc điểm hình thái Cây Trám đen là cây gỗ lớn có thể cao 25m, đường kính 120cm, tán rộng từ 10-18m.

Thân tròn thẳng, vỏ xám trắng, lúc già bong vẩy nhỏ. Vạc vỏ đẽo có nhựa thơm hơi đục. Lá Trám đen giai đoạn cây mạ là lá đơn xẻ thùy, lá đơn nguyên mép. Sau đó là lá kép lông chim một lần lẻ, có từ 7-13 lá chét, lá chét hình trái xoan thuôn hoặc hình trứng dài 6-15cm, rộng 2,5-5,5cm đầu nhọn dần, đuôi lệch e 5 mép nguyên, mặt dưới lá thường có nhiều vẩy sáp trắng.

Gân bên 12-16 đôi. Có lá kèm nhỏ sớm rụng. Hoa tự viên chùy hoặc chùm ở lách lá gần đầu cành, thường ngắn hơn lá. Hoa đơn tính mọc cùng gốc trên trục hoa.

Hoa có màu trắng hoặc trắng vàng, đài dài 2,5-3mm hợp gốc, ở hoa đực mép ống dài có 3 răng, nhị 6 hợp gốc, ở hoa cái chỉ nhị đều hợp. Quả hạch hình trái xoan dài 2,5-3,5cm, khi chín có màu đen, hạch thường có 6 múi, 2 đầu nhọn. Đặc điểm sinh thái Cây Trám đen phù hợp với hầu hết các loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến đất sét nhẹ, mùn còn khá, tầng đất dày trên 50cm, thoát nước và còn tính chất đất rừng. Độ pH thích hợp 4-5.

Trong tự nhiên Trám đen thường xuất hiện ở những nơi ven sông suối. Cây Trám đen phù hợp với nhiệt độ trung bình năm 21-250, lượng mưa bình quân năm 1500-2000mm. Cây Trám đen là loài cây mọc nhanh, ưa sáng, mọc tốt khi xen kẽ với các loài cây (Hu đay, Đom đóm…). Trong rừng tự nhiên thường chiếm ở tầng trên nhưng trong giai đoạn 2 năm đầu cần phải che bóng, sau đó hoàn toàn ưa sáng, là loài cây chịu nhiệt kém, thoát hơi nước mạnh.

Cây trồng 7-8 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì sau 3 năm có thể sẽ ra hoa. Cây ra hoa vào tháng 2-3, quả chín vào tháng 9-10. Giá trị kinh tế Gỗ cây Trám đen có màu trắng xám, mềm nhẹ, dễ làm, dễ gia công chế biến có thể sử dụng làm gỗ xây dựng, gỗ dán lạng, làm gỗ trụ mỏ, dùng làm bột giấy và đóng đồ mộc thông thường, gỗ thuộc nhóm 6. Ngày nay Trám đen được trồng không phải với mục đích lấy gỗ là chính mà trồng để lấy quả và nhựa cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

Nhựa Trám đen e 6 được dùng trong công nghiệp thực phẩm, chế biến xà phòng, mỹ phẩm, sơn tổng hợp, giấy và hương… Quả cây Trám đen có thể làm thực phẩm, sản xuất ô mai, làm thuốc chữa bệnh (ho, đau răng, miệng khô khát nước, dị ứng sơn…). Hạt Trám đen có lượng tinh dầu 20-25%, có thể ép dầu làm nhân bánh, dầu dùng trong công nghiệp. Trong 100kg nhựa Trám đen có thể lấy được 18-20kg tinh dầu và 50-60kg Colophan (gần nhựa Thông nhưng khả năng cung cấp của nhựa Trám đen cao hơn). Một cây Trám đen có đường kính trên 20cm có thể cho 10-15kg nhựa một năm.

Là cây trồng bóng mát, vườn rừng nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nếu Trám đen trồng làm giàu rừng trong các loại hình phục hồi rừng hoặc trong các vườn rừng với số lượng 50 cây/ha sau 8-10 năm có thể thu hoạch 20-25kg quả/cây/năm và 10-15kg nhựa/cây/năm. Cơ sở khoa học Ngày nay nhân giống vô tính dạng rất phát triển và được áp dụng nhiều trong công tác nhân giống cây trồng nông lâm nghiệp. Ghép là một phương pháp nhân giống vô tính, được thực hiện bằng sự kết hợp của một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây khác, để tạo thành một tổ hợp ghép cùng sinh trưởng và phát triển như một cây thống nhất.

Khi ghép một bộ phận của cây giống (mắt ghép, cành ghép) được gắn vào gốc của cây khác (gốc ghép) để tạo thành một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của cây lấy cành ghép ban đầu. Do sự tiếp xúc chặt chẽ giữa các tượng tầng của gốc ghép và cây ghép, đồng thời có sự hoạt động và tái sinh của mô phân sinh tượng tầng làm cho gốc ghép và cành ghép gắn liền với nhau. Cây ghép sẽ phát triển thành một thể thống nhất. * Cây ghép thường có những đặc điểm: - Khả năng duy trì giống tốt: những cây ăn quả được trồng từ hạt thường không giữ được đặc tính tốt của cây mẹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mô hình trồng trám đen ghép tại Hà Châu, Phú Bình, Thái Nguyên: Đánh giá thực trạng và hướng dẫn cấp hộ gia đình" cung cấp cái nhìn toàn diện về mô hình trồng trám đen ghép, một phương pháp canh tác hiệu quả tại địa phương. Nội dung tập trung vào đánh giá thực trạng, những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng mô hình này, đồng thời đưa ra hướng dẫn chi tiết cho các hộ gia đình để tối ưu hóa sản xuất. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững và phát triển kinh tế địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các mô hình nông nghiệp và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện võ nhai tỉnh thái nguyên, nghiên cứu về quản lý rừng sản xuất tại Thái Nguyên. Ngoài ra, Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã thẩm dương huyện văn bàn tỉnh lào cai cung cấp góc nhìn sâu sắc về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh thái nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ nông nghiệp tại Thái Nguyên.