ĐẶT VẤN ĐỀ Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) là một trong những loài cây ƣa sáng, mọc nhanh đƣợc trồng phổ biến ở nƣớc ta, thuộc họ hòa thảo (Poaceae), họ phụ tre nứa (Bambusoideae). Đây là loài cây ƣa ẩm, ƣa sáng mọc nhanh, có nhiều công dụng đối với đời sống con ngƣời với chu kỳ kinh doanh ngắn, có thể khai thác cho sản phẩm hàng năm, là loài cây đa tác dụng và hiện nay đƣợc gây trồng rộng rãi, có giá trị kinh tế cao. Thanh Hóa là tỉnh có nhiều diện tích rừng Luồng đƣợc trồng tập trung. Ngoài tác dụng phòng hộ, rừng Luồng có tác dụng chính là: cung cấp thân cây để sử dụng trong xây dựng, nguyên liệu giấy, ván ép, vật liệu đan lát, .; Do tính đa dạng sản phẩm mà nhu cầu thị trƣờng đối với Luồng ngày càng cao, nguồn thu từ rừng Luồng ngày càng có ý nghĩa đối với đời sống của ngƣời dân địa phƣơng.
Vì vậy, cây Luồng đƣợc chọn làm cây trồng rừng chính của tỉnh Thanh Hóa, diện tích rừng Luồng ngày càng mở rộng Tuy nhiên, thực tiễn kinh doanh rừng Luồng ở Thanh Hóa còn một số tồn tại nhƣ chƣa phân chia đƣợc điều kiện lập địa thích hợp cho trồng Luồng, chƣa xác định đƣợc mô hình rừng Luồng mong muốn cũng nhƣ những giải pháp kỹ thuật phù hợp cho khai thác rừng lâu dài và liên tục. Vì vậy, việc nghiên cứu xác định hệ thống các biện pháp kỹ thuật về trồng, chăm sóc và khai thác rừng Luồng theo hƣớng thâm canh để nâng cao năng suất, chất lƣợng của rừng Luồng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là rất cần thiết. Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên và thúc đẩy các hoạt động phát triển rừng Luồng ở Thanh Hóa, khóa luận “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng Luồng thuần loài tại xã Phùng Minh - huyện Ngọc Lặc - tỉnh Thanh Hóa” đã đƣợc thực hiện. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt các nƣớc vùng phía Nam và Đông Nam Á. Ở các nƣớc này, ngƣời dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng kiến trúc, giao thông vận tải… Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon đã trở thành đối tƣợng cung cấp thực phẩm có giá trị.
Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này nên tre trúc là đối tƣợng đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu về nhiều mặt nhƣ: Chọn giống, gây trồng, khai thác, sử dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lƣợng cao, hƣớng theo mục đích sử dụng nhất định. Từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt nhƣ: lâm học, tái sinh, khai thác… Nhƣ công trình nghiên cứu của I.Dig với tên “Rừng tre nứa” đƣợc FAO (Food and Agriculture Organization) xuất bản năm 1959 [14], công trình đã cung cấp nhiều thông tin về tre nứa, tuy nhiên công trình này chỉ công bố về các thuộc tính tự nhiên của chúng. Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học.
Munro (1868) [8] có công trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” đƣợc coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó đã khái quát đƣợc một cách tổng quát về họ phụ tre trúc. 2 Công trình “Các loài tre trúc” của Gamble (1896) đã đề cập tƣơng đối về chi tiết phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nƣớc Ấn Độ, Pakistan, Mianma, Malaysia và Indonesia. Giáo sƣ Koichiro Ueda (1960) [7] xuất bản cuốn “Sinh lý tre trúc”. Theo giáo sƣ ngƣời Nhật Bản này thì trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 47 giống họ Bambusaceae, trong đó châu Á có 37 chi, châu Mỹ có 10 chi, châu Phi có 10 chi.
Tác giả cũng cho biết Đông Nam Á là vùng trung tâm phân bố của tre trúc. Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thế giới là trƣờng đại học Kyoto Nhật Bản. Các mẫu đƣa vào nghiên cứu ở đây đƣợc thu thập từ khắp nơi trên lãnh thổ Nhật Bản. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc.
Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vƣợt qua lãnh thổ quốc gia, điển hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các cùng lân cận, công trình nghiên cứu của tiến sĩ Kyamashta, Yinamori về mặt di truyền tế bào học của tre trúc. Năm 1994, tổ chức PROSEA (Plant Resourcer of South – East Asia) đƣa ra công trình nghiên cứu “Tre nứa khu vực Đông Nam Á” tại Indonesia [15]. Trong công trình nghiên cứu tác giả đã đặt ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng các loài tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam. Tuy nhiên, công trình vẫn chƣa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực cũng nhƣ ở Việt Nam.
Công trình “Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) đề cập đến biện pháp bón phân và làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhƣng phải bón phân một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Tại Ấn Độ: Nghiên cứu của Dr.Tewari (1997) đã nghiên cứu về phân bố và cách nhận biết của các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra đƣợc giá trị sử dụng hiện tại, chiến lƣợc và dự kiến các chƣơng trình nghiên cứu, đƣa ra đánh 3 giá tài nguyên tre trúc cho từng nƣớc về số lƣợng loài và tiềm năng phát triển. Một số tác giả trong nghiên cứu về tác động của chính sách và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội từ Tre và Mây. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tre trúc và những sản phẩm của nó đã gắn bó và gần gũi với ngƣời dân Việt Nam từ bao đời nay trên tất cả các mặt của đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần, trong cuộc giải phóng dân tộc, gậy tầm vông đã cùng nhân dân ta đuổi đánh quân xâm lƣợc.
Hòa bình lập lại, tre trúc lại cùng chúng ta bƣớc vào công cuộc xây dựng đất nƣớc, phát triển kinh tế xã hội. Giá trị của tre trúc thật phong phú và đa dạng, không chỉ trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn có ý nghĩa cao trong việc cải thiện bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Vì vậy, hình ảnh tre trúc đã trở thành những ấn tƣợng tốt đẹp và ăn sâu vào tiềm thức của ngƣời dân Việt Nam. Các vấn đề về quản lý và kinh doanh tre trúc cũng ngày càng thu hút đƣợc sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu trong nƣớc.
Tuy nhiên việc nghiên cứu tre trúc ở Việt Nam mới chỉ đƣợc bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 60, một số công trình nghiên cứu và những kết quả có thể kể đến là: Năm 1964 Nguyễn Ngọc Bình [1] mở đƣờng cho nghiên cứu về đất trồng Luồng qua công trình “Bƣớc đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng”. Trần Nguyên Giảng (1961 – 1967) đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng trồng Luồng [4]. Trịnh Đức Trình và Nguyễn Thị Hạnh (1986 -1990) có công trình “Thâm canh rừng Luồng lấy măng xuất khẩu”. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về nhân giống Luồng của các tác giả nhƣ Trịnh Đức Trình (1972); Phạm Bá Minh (1972); Phạm Quang Liên (1999)… Năm 1967 Nguyễn Thị Phi Anh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu trồng Diễn ở Cầu Hai - Phú Thọ”.
Năm 1972, Lê Nguyễn và các cộng sự đƣa ra công trình nghiên cứu “Nhận biết, gây trồng, bảo vệ và khai thác tre trúc”. 4 Phạm Bá Minh (1972) đã “Nghiên cứu nhân giống cây Luồng bằng phƣơng pháp ƣơm cành trong bầu dinh dƣỡng”. Công trình này đã nêu rất kỹ phƣơng pháp, kỹ thuật gây trồng Luồng trong bầu dinh dƣỡng và phƣơng pháp để cây giống có chất lƣợng tốt. Năm 1994, Ngô Quang Đê [3] đã nghiên cứu và đƣa ra cuốn “Gây trồng tre trúc”, tác giả đã giới thiệu tóm tắt về đặc điểm sinh vật học, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre trúc nói chung.
Ngoài ra tác giả cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng của một số loài cụ thể đang đƣợc quan tâm hiện nay nhƣ: Luồng, Mậy sang, Vầu đắng. Nghiên cứu về phân bố, trữ lƣợng, số loài và tình hình sinh trƣởng của các loài tre trúc ở Việt Nam đƣợc thực hiện qua công tác điều tra quy hoạch rừng của Viện điều tra quy hoạch rừng (1995 - 1998), đã cho thấy sự phong phú và đa dạng về tổ thành các loài tre trúc, khả năng sinh trƣởng nhanh và vùng phân bố rộng rãi tre trúc ở nƣớc ta. Các tác giả Nguyễn Đình Hƣng, Nguyễn Tử Ƣởng, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Tử Kim (2000) qua công trình “Tài nguyên tre trúc ở Việt Nam” đã nghiên cứu về sinh thái, trữ lƣợng, diện tích rừng tre trúc của Việt Nam, tác động của khai thác và đặc điểm cấu trúc của rừng tre trúc, nguồn gen và thành phần loài, đặc điểm sinh trƣởng, thực trạng của tre trúc, nguy cơ bị tàn phá. Nghiên cứu cũng đã nêu ra đƣợc các phƣơng pháp bảo tồn nhƣ: bảo tồn tại chỗ và bảo tồn ngoại vi, phát triển trồng tre trúc [6].
Công trình nghiên cứu về Luồng theo phƣơng thức hỗn giao với các loài cây lá rộng tại Phú Thọ (Nguyễn Trƣờng Thành, 2002) [11] cho thấy: Việc trồng rừng Luồng thuần loài trên đất đồi đã xuống cấp dẫn đến sự kém bền vững về mặ sinh thái cũng nhƣ năng suất. Luồng trồng hỗn giao với cây lá rộng nhƣ Lim, Sồi phảng hoặc Keo lá to có sinh trƣởng về đƣờng kính, chiều cao và chất lƣợng cao hơn trồng thuần loài. Các loài cây lá rộng có ý nghĩa tích cực trong cải thiện tính chất lý hóa của đất dƣới tán rừng Luồng.