lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Mô hình thƣơng mại biên giới của một địa phƣơng. Chƣơng 2: Mô hình thƣơng mại biên giới của tỉnh Lào Cai (Việt Nam) với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) giai đoạn 2011 – 2016. Chƣơng 3: Định hƣớng giải pháp hoàn thiện mô hình thƣơng mại biên giới của tỉnh Lào Cai đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 1: MÔ HÌNH THƢƠNG MẠI BIÊN GIỚI CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1.
Cơ sở lý thuyết của mô hình thƣơng mại biên giới 1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII, Adam Smith (1723 – 1790) chỉ ra hạn chế chính của chủ nghĩa trọng thƣơng trong cuốn “Của cải của các dân tộc”, xuất bản năm 1776, đồng thời đƣa ra luận điểm mới nhằm giải thích nguồn gốc, bản chất và lợi ích của TMQT. Theo ông, đơn vị đo sự sung túc của một quốc gia là lƣợng giá trị hàng hóa sản xuất đƣợc, mà không chỉ đo bằng số lƣợng vàng đƣợc quốc gia tích trữ. Adam Smith đƣa ra nhận định: “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt đƣợc không phải do những quy định chặt chẽ của chính quyền mang lại mà là nhờ vào tự do kinh doanh”.
Giải thích bản chất TMQT, Adam Smith cho rằng TMQT muốn bền vững phải dựa trên cơ sở tự nguyện và các bên đều có lợi, thêm vào đó, là sự trao đổi ngang giá. Lý thuyết đƣợc diễn giải với nội dung nhƣ sau: - Thƣơng mại diễn ra tự do - Lợi thế tuyệt đối đƣợc hiểu là chi phí lao động cần thiết để giá trị sản xuất hàng là thấp nhất. Hàng hóa đƣợc đƣa từ nơi có giá cả thấp sang nơi có giá cả cao. - Mô hình TMQT của một quốc gia là“chuyên môn hóa sản xuất và XK hàng hóa có lợi thế tuyệt đối và NK mặt hàng”bất lợi.
- Nếu hiểu theo nghĩa rộng, để khai thác hiệu quả tài nguyên mỗi quốc gia sẽ tập trung nguồn lực và“chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối. Khi tham gia TMQT các quốc gia sẽ thu đƣợc những lợi ích”khác nhau do tổng lƣợng sản phẩm cuối cùng tăng lên và chi phí sẽ rẻ hơn so với việc sản xuất toàn bộ. 6 Xem xét bảng sau: Bảng 1.1: Chi phí lao động cho sản xuất thép và vải ở Việt Nam và Trung Quốc Nguồn:“Giáo trình Kinh tế Quốc tế NXB Đại học Kinh tế Quốc dân”(2012). Khi chƣa có trao đổi TMQT, Trung Quốc và Việt Nam là 2 thị trƣờng riêng biệt với 2 mức giá khác nhau.
Trong điều kiện không có thƣơng mại, Trung Quốc là nƣớc có hiệu quả cao hơn trong sản xuất thép do trong khi Việt Nam cần dùng 5 lao động để sản xuất ra 1 đơn vị thép, thì Trung Quốc chỉ cần 3 lao động. Ngƣợc lại, trong sản xuất vải Việt Nam lại có hiệu quả hơn do quốc gia này chỉ cần 2 lao động để có thể sản xuất ra 1 đơn vị vải còn Trung Quốc phải dùng 6 lao động. Trong trƣờng hợp này, Việt Nam đƣợc coi là có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất thép và Trung Quốc thì có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thép nhƣng lại bất lợi tuyệt đối trong sản xuất vải. Trong điều kiện có trao đổi TMQT, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith để cùng thu đƣợc lợi ích Trung Quốc chuyên môn hóa vào sản xuất thép còn Việt Nam tập trung sản xuất vải rồi trao đổi với nhau.
Tóm lại, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith nguồn gốc TMQT là sự khác biệt chi phí tuyệt đối giữa hai quốc gia hay việc tập trung sản xuất dựa vào lợi thế tuyệt đối sẽ có lợi cho các nƣớc tham gia trao đổi. Vận dụng lý thuyết này vào phát triển TMBG của một địa phƣơng có thể rút ra hai vấn đề có tính phƣơng pháp luận sau: Thứ nhất, mỗi địa phƣơng biên giới nên định hƣớng và tập trung chuyên môn hóa vào các mặt hàng, ngành, lĩnh vực hay loại hình kinh doanh sản xuất có lợi thế tuyệt đối để tận dụng hiệu quả nguồn lực của địa phƣơng. Thông qua trao đổi TMBG, XK những hàng hóa mà địa phƣơng có lợi thế tuyệt đối và NK sản phẩm 7 mà nƣớc ngoài sản xuất hiệu quả hơn sẽ đem lại lợi ích cao hơn do tổng lƣợng sản phẩm trao đổi của địa phƣơng tăng và chi phí cũng rẻ hơn với các tỉnh không có biên giới.
Thứ hai, Chính phủ cũng nhƣ các địa phƣơng biên giới nên nghiên cứu và có chính sách xác định đúng những mặt hàng, ngành, lĩnh vực mà địa phƣơng có lợi thế tuyệt đối để sản xuất và thúc đẩy XK, làm tăng trƣởng hiệu quả giá trị của cải, thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo David Ricardo (1772 – 1823) nghiên cứu những hạn chế trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith là chƣa thể giải thích đƣợc TMQT trong mọi trƣờng hợp và phát triển lý thuyết lợi thế so sánh (Comparative advantage) hay còn gọi là quy luật lợi thế so sánh đƣợc trình bày trong tác phẩm “Những nguyên lý Kinh tế Chính trị và Thuế”, xuất bản năm 1817. Theo đó, trong quan hệ TMQT, một nƣớc bất lợi trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì vẫn có thể chọn mặt hàng có hiệu quả tƣơng đối cao hơn – mặt hàng có lợi thế so sánh để trao đồi. Một bƣớc tiến quan trọng của D.
Ricardo so với A.Smith là đƣa ra một số giả định: - Thế giới chỉ có hai quốc gia, hai mặt hàng và một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hai mặt hàng, còn quốc gia kia ở vào tình trạng ngƣợc lại - Lao“động là yếu tố sản xuất duy nhất, không thể di chuyển giữa các quốc”gia - Công nghệ sản xuất không đổi - Thƣơng mại là tự do hoàn toàn. Xét ví dụ minh họa qua bảng 1.2: Minh“họa lợi thế so sánh của hai quốc gia” Nguồn:“Giáo trình Kinh tế Quốc tế NXB đại học Kinh tế Quốc dân”(2012).2, Việt Nam bất lợi tuyệt đối trong sản xuất cả gạo và vải so với Trung Quốc. Tuy nhiên, trong năng suất lao động để sản xuất gạo, lao động ở Việt Nam bằng 1/2 của Trung Quốc và trong sản xuất vải bằng 1/6 của Trung Quốc. Do đó,”Việt Nam có lợi thế so sánh trong việc sản xuất gạo.
Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng và lợi thế so sánh trong sản xuât vải lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải của Trung Quốc là 6:1 lớn hơn lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo là 4:2. Vậy, Trung Quốc có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải. Việt Nam tuy không có lợi thế tuyệt đối nhƣng vẫn có lợi thế so sánh trong việc sản xuất gạo. Và theo quy luật lợi thế so sánh, nếu Trung”Quốc chuyên môn hóa sản xuất và XK gạo để đổi lấy gạo do Việt Nam sản xuất thì cả hai quốc gia sẽ nhận đƣợc lợi ích từ TMQT.
Ricardo cho rằng, lợi ích của các nƣớc tham gia đƣợc nhận định trên cơ sở lợi thế so sánh. Nội dung của quy luật đƣợc xem xét trên nhiều góc độ: 1 quốc gia tập trung sản xuất và XK hàng hóa có thể đạt hiệu quả sản xuất cao hơn hay giá cả thấp hơn so với quốc gia khác và NK trở lại các sản phẩm không có lợi thế so sánh. Khác với lợi thế tuyệt đối của A. Smith, lợi thế so sánh đƣợc hiểu là quan hệ tƣơng quan thuận lợi hơn về chi phí lao động và chi phí cơ hội trong sản xuất các mặt hàng đƣợc đƣa ra để trao đổi so với mặt hàng còn lại.
Mức lợi thế so sánh, biểu hiện khả năng mở rộng thị trƣờng sản phẩm (X) trên thị trƣờng thế giới, đƣợc xác định bằng công thức sau: Trong đó: RCA: Lợi thế so sánh hiện hữu E1: Kim ngạch XK sản phẩm X của quốc gia trong một năm EC: Tổng kim ngạch XK của quốc gia trong một năm E2: Tổng kim ngạch XK sản phẩm X của thế giới trong một năm EW: Tổng kim ngạch XK của toàn thế giới về tất cả các mặt hàng trong một năm Nếu RCA ≤ 1: Sản phẩm X không có lợi thế so sánh 9 1 ≤ RCA ≤ 2,5: Sản phẩm X có lợi thế so sánh (mức lợi thế cao dần khi RCA tiến tới 2,5) RCA ≥ 2,5: Sản phẩm X có lợi thế so sánh rất cao. Qua nghiên cứu hai lý thuyết có thể rút ra nhận xét: một ngành, lĩnh vực kinh doanh hay một sản phẩm nào đó có lợi thế tuyệt đối không nhất thiết là có lợi thế so sánh. Lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh nêu trên thực chất có mối quan hệ với lợi thế theo quy mô của một nƣớc hoặc một địa phƣơng, có đƣợc nhờ lợi thế địa lý, nguồn lực và năng suất lao động hay công nghệ sản xuất, năng lực kinh doanh. Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh vào phát triển TMBG của địa phƣơng, có thể nhận định là: Các biện pháp chính sách của chính phủ, của chính quyền cấp địa phƣơng biên giới trong việc thúc đẩy kinh doanh và tăng năng suất lao động đối với ngành thƣơng mại (hoặc một sản phẩm nhất định) sẽ góp phần cải tiến và nâng cấp lợi thế so sánh của địa phƣơng về ngành thƣơng mại (hoặc sản phẩm dịch vụ thƣơng mại đó).
Mô hình H – O về lợi thế so sánh Lý thuyết Heckscher – Ohlin hay mô hình H – O do nhà kinh tế học Eli Hecksher đƣa ra vào năm 1919 và Bertil Ohlin hệ thống hóa cũng nhƣ hoàn chỉnh lại vào năm 1933 nhằm lý giải tác động của các nhân tố tới TMQT nhƣ mức độ sẵn có và hàm lƣợng các yếu tố sản xuất sử dụng để làm ra những sản phẩm khác nhau ở các quốc gia. Hàm lƣợng các yếu tố sản xuất Xem“xét một mô hình đơn giản gồm hai nguồn lực cơ bản là lao động (L) và vốn (K), sử dụng để sản xuất ra hàng hóa là X và Y. Hàng hóa X đƣợc coi là có hàm lƣợng lao động cao”khi: Trong đó: LX và LY: lƣợng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa X, Y KX và KY: lƣợng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa X, Y Tƣơng tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và lao động là lớn hơn thì X đƣợc coi là hàng 10 hóa“có hàm lƣợng vốn cao. Mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất” Xem“xét mô hình giản đơn với hai nƣớc A, B chỉ gồm hai yếu tố sản xuất là K, L.