CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH ĐÔ THỊ SÔNG NƯỚC, SƠ LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ CỦA TỈNH VĨNH LONG VỚI CÁC ĐÔ THỊ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỈNH VĨNH LONG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ VĨNH LONG.1 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH ĐÔ THỊ SÔNG NƯỚC CỦA CÁC ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.1 Mô hình phát triển không gian đô thị sông nước của các đô thị trên thế giới. Hà Lan Khoảng 27 % lảnh thổ Hà Lan hiện nay thấp hơn mực nước biển trung bình 3m, có chổ thấp 7m như ở Prince Alexander Polder và khoảng 60 % của tòan dân số 16 triệu sinh sống trên vùng đất thấp này. Ngoài ra, vào mùa lụt 70 % đất đai sẽ bị ngập lụt do nước lũ từ các sông tràn ngập nếu hiện nay không có hệ thống đê dọc theo sông. Cuộc đấu tranh trong nhiều thế kỷ dài chống lại nước có ảnh hưởng được đánh dấu trên thiết kế của người Hà Lan, do lũ lụt nên hoạt động của con người là bao đê và lấn biển quá trình lịch sử thay đổi đáng kể, để bảo vệ đất nước các đê bao dọc theo bờ biển và sông được xây dựng.
Diện tích đất đáng kể đã được đạt được thông qua cải tạo đất và một hệ thống xây dựng lấn biển và đê điều, một hình thức can thiệp của con người trong tự nhiên, các vùng đất rộng lớn nhận lại từ nước, được gọi là lấn biển. Đại công trình Zuiderzeewerken (Zuiderzee Works), kéo dài từ 1919 và hoàn thành năm 1986 trong thế kỷ 20, với sự thành lập tỉnh mới Flevoland. Mục tiêu chính của công trình này là bảo đảm chống lụt gây bởi Biển Bắc và tạo thêm đất nông nghiệp trong vùng biển nội địa Zuiderzee. Hà Lan là quốc gia có kinh nghiệm trong việc đã kiểm soát nguồn nước và lấn biển để xây dựng đô thị và phát triển.
Khu vực sông nước được đề cập trong đề tài là vùng đồng bằng cửa sông, ven biển do phù sa của các con sông lớn bồi đắp. Tại các nước châu Á, nơi có truyền thống lúa nước, các vùng đồng bằng này hết sức quan trọng, là nơi canh tác lúa nước của hàng trăm triệu người, là khu vực cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm hết sức to lớn cho phần còn lại. Tại Trung Quốc, các đồng bằng của sông lớn là: - Vùng châu thổ sông Trường Giang hoặc đồng bằng sông Dương Tử có diện tích 99.600 km2, dân số trên 80 triệu người năm 2007. Các thành phố lớn là Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu, Tô Châu.
- Golden Delta of Guangdong (được gọi là đồng bằng sông vàng) thuộc Quảng Đông Trung Quốc là đồng bằng của các con sông Xi Jiang, Bei Jiang và Dong Jiang. Theo báo cáo 2010/2011 (State of the World Cities) của Nations Human Settlements Programm dân số của đồng bằng năm 2010 khoảng 120 triệu người. Thành phố trung tâm vùng là Quảng Châu có dân số trên 18 triệu người. Trung Quốc còn có một số đồng bằng của các con sông lớn khác như Hòang Hà, Hắc Long Giang.
Với lịch sử hàng ngàn năm phát triển Trung Quốc lấy “trị thủy” làm tiền đề để phát triển các đô thị và khu dân cư. Các sông, rạch được đắp đê, dựng cống hai bên bờ cho đến các đê biển. Các đê, sông đê biển này đã ngăn các dòng chảy vào các đô thị đồng thời kiểm soát mực nước tại các sông, suối đô thị bằng các đập ngăn nước và các trạm bơm để bơm nước ra sông. Nhiều sông, rạch nhỏ được lấp và tôn cao nền cho các dự án phát triển đô thị.
Do vậy, ít thấy hình ảnh đô thị sông nước tại các đô thị Trung Quốc. - Tại Ấn Độ và Bangladesh có châu thổ vùng Ganges-Brahmaputra rộng 105. Đây là vùng đồng bằng cửa sông Hằng, sông lớn nhất Ấn Độ chảy ra Ấn Độ Dương tại Bangladesh và Ấn Độ. Dân số thuộc vùng đồng bằng này riêng tại Bangladesh khoảng 70-75 triệu người.
Các thành phố lớn có thủ đô Daka của 8 Bangladesh có dân số trên 10 triệu người. Khoảng hai phần ba số người Bangladesh làm việc trong nông nghiệp, và phát triển các loại cây trồng trên các vùng đồng bằng ngập lũ màu mỡ của vùng đồng bằng. Mạng lưới sông, rạch khá dày đặc trong vùng châu thổ, tuy nhiên chưa có hệ thống kênh đào phục vụ phát triển nông nghiệp như đồng bằng sông Cửu Long và có những đặc điểm gần giống như đồng bằng sông Cửu Long. Các đô thị phát triển trên các sông, rạch mà không bao đê như của Trung Quốc mà có sự kết gắn giữa các khu chức năng của đô thị với sông nước như khu cảng, kho tàng, khu thương mại, dân cư.
- Tại Thái Lan, Chao Phraya là vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn của Thái Lan trên sông Chao Phraya. Đồng bằng rộng 160.400 km², trong đó khu vực hạ lưu ven biển là khu vực đất thấp trong đó có cả thu đô Bangkok. Đồng bằng này chiếm phân lớn dân số của Thái Lan với các đô thị lớn là Nakhon Sawan, Uthai Thani, Chainat, Singburi, Ang Thong, Ayutthaya, Pathum Thani, Nonthaburi, Bangkok and Samut Prakan. Cảnh quan của các lưu vực sông, rất rộng, bằng phẳng, được tưới nước vùng đồng bằng liên tục làm mới với đất và trầm tích đưa xuống các con sông đồng bằng được kết nối với nhau bằng hệ thống kênh phục vụ cho thủy lợi và giao thông vận tải có đặc điểm gần giống với vùng đồng bằng sông Cửu Long các đô thị gần như phát triển và bám theo các con sông lớn.2 Mô hình phát triển không gian đô thị sông nước ở Việt Nam.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ. - Vùng đồng bằng Bắc Bộ hay còn gọi là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, được hình thành do phù sa bồi đắp của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Đó là một vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, nơi chủ yếu là người Việt sinh sống tạo thành các làng, xã. Vùng đồng bằng Bắc Bộ nằm trong hình tam giác kéo dài từ đỉnh là thành phố Việt Trì đến cảng thành phố Hạ Long ở phía cực Bắc cho đến điểm cực Nam là tỉnh Ninh Bình, có 108 huyện thị với tổng diện tích là 14.816,9 km2, dân số 14708.155 9 người, mật độ dân cư bình quân 1.2 người/km2; bao gồm 10 tỉnh thành: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nền văn hoá lâu đời, cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. - Đồng bằng Bắc Bộ trong 1000 năm qua do đặc điểm và ảnh hưởng Trung Quốc đã đắp đê bao quanh sông rạch khống chế lũ, nên đã hình thành những khu đô thị nằm trong đê, dòng sông gần như bị cắt đứt liên hệ với đô thị và vùng đồng bằng của con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng, dòng nước chứa nhiều phù sa của dòng sông không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân đê đó là nguyên nhân khiến từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi. - Có những đô thị mà ngay từ sự ra đời và số phận của nó đó gắn chặt với dòng sông, thuộc về dòng sông. Hà Nội là một trong những thành phố như vậy, hình dáng và sự phát triển của đô thị luôn gắn kết mà cũng xa cách, vừa chế ngự mà cũng nương tựa vào sông Hồng, dường như sông Hồng chỉ đóng vai trò vận chuyển nước đi qua thành phố, còn Hà Nội thì như muốn tránh mặt dòng sông do đặc điểm lũ sông Hồng cao hơn nền Thủ đô Hà Nội từ 2-5m có khả năng vỡ đê gây ngập lụt cho thành phố.
Do đó mong muốn quay về với dòng sông ngày xưa, khẳng định vị thế của một đô thị đang phát triển ngót nghét 1000 năm tuổi, giờ đây không chỉ là suy nghĩ mà cần biến thành hành động. Vùng đồng châu thổ sông Đồng Nai. - Sông Đồng Nai là tên con sông lớn thứ nhì Nam Bộ, chỉ sau sông Cửu Long. Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông,Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài trên 437 km và lưu vực 38.
Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các phân lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng 10 Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi) v. Nguồn sông chính xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng.
- Qua quá trình hình thành và phát triển của các đô thị nằm ven theo sông Đồng Nai và các phụ lưu như: Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh .thì đặc điểm ở đây các đô thị đều phát triển cặp theo sông hình thành các khu dân cư, cảng, khu công nghiệp.xem như là những lợi thế đặc trưng về thuận tiện giao thông và không sử dụng đê bao dọc theo dòng sông như đồng bằng Bắc Bộ, sự phát triển của các đô thị đều dựa và nương vào cảnh quan sông nước để phát triển gắn kết với đô thị. Tuy nhiên việc coi như một dòng sông phục vụ sản xuất và giao thông chứ chưa được đối xử như một cảnh quan thiên nhiên, một không gian cần và đủ để tạo dựng một không gian cảnh quan thành không gian văn hóa, giải trí, kết hợp các loại hình kinh doanh thích hợp, sẽ là một dòng sông taxi phục vụ văn hóa và du lịch, với hệ thống bến đò cùng những công viên rộng tiếp cận bờ sông. Hai bờ sông là không gian thích hợp để trình diễn những kiến trúc độc đáo, những công trình văn hóa - nghệ thuật, giải trí… tạo nên bộ mặt đô thị hấp dẫn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam của đất nước Việt Nam thuộc phần hạ lưu của lưu vực sông Mêkong, con sông chảy qua 6 nước là Miến Điện, Trung Quốc, Lào, Thái lan, CampuChia và Việt Nam. Diện tích lưu vực sông Mêkong khoảng 795.000 km2, vùng hạ lưu sông có diện tích khoảng 49.367 km2, trong đó vùng ĐBSCL chiếm khoảng 40.604 km2 bằng 5% diện tích toàn lưu vực Mê Kông, 79% diện tích vùng hạ lưu và gần 1/8 diện tích Việt Nam. ĐBSCL là một bán đảo, bờ biển phía đông 400km, phía tây 300km.