Chương I TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta 1.1 Hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi Theo báo cáo của Tổng cục thủy lợi (2013), đến nay, cả nước hiện có 110 hệ thống thuỷ lợi lớn (có diện tích phục vụ lớn hơn 2.831 hồ chứa các loại với tổng dung tích trữ nước trên 35,34 tỷ m3; trên 10.000 trạm bơm điện lớn; hàng chục nghìn cống tưới tiêu các loại; trên 254.800 km kênh mương (trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn); khoảng 6.100 km đê sông, trên 2.500 km đê biển và trên 25.800 km bờ bao ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vừa và lớn có diện tích phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi là cơ sở hạ tầng quan trọng, phục vụ tưới tiêu cho diện tích cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, đồng thời góp phần phòng chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế. Hàng năm, công trình thuỷ lợi trong cả nước cung cấp gần 6 tỷ m3 nước cho công nghiệp và sinh hoạt.
Bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương đã được xây dựng tương đối đồng bộ, thống nhất, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi. Ở Trung ương đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi. Ở cấp tỉnh, đã có 62/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Thuỷ lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão). Nhiều Chi cục Thủy lợi đã làm tốt chức năng quản lý nhà nước về khai thác công trình thuỷ lợi, giúp các Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện tốt công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.
Ở các 6 cấp huyện, xã cũng đã được quan tâm hơn, nhằm tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp cơ sở. Đến nay, ở nước ta đã hình thành hệ thống cơ sở pháp lý trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, tạo nền tảng pháp lý cho các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hoạt động, như: Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 4/4/2001 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ; Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 143 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; Nghị định số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 7/5/2007 của Chính phủ về quản lý an toàn đập. Ngoài ra, còn nhiều Thông tư hướng dẫn chuyên môn của Bộ, các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được ban hành, tạo cơ sở để các địa phương tổ chức thực hiện. Tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta bao gồm hai loại hình chính là Tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các Tổ chức Hợp tác dùng nước.
Các Tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình Doanh nghiệp) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp. Các công trình còn lại chủ yếu do Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ, độc lập hoặc kênh mương và công trình nội đồng thuộc các hệ thống lớn mà công trình đầu mối do các Tổ chức nhà nước quản lý. Thực tế cho thấy, việc quản lý khai thác công trình thủy lợi của các Tổ chức hợp tác góp phần quan trọng để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Trong thời gian qua, các Tổ chức Hợp tác dùng nước trong phạm vi toàn quốc đã được các cấp, các ngành và nhiều địa phương củng cố, kiện toàn tạo điều kiện phát huy vai trò của người dân 7 tham gia quản lý công trình thủy lợi theo chủ trương xã hội hóa công tác thủy lợi của Đảng và Nhà nước.
Đến nay, hầu hết các công trình thuỷ lợi đều có đơn vị quản lý, khai thác và bảo vệ. Cả nước hiện có 96 tổ chức quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi là doanh nghiệp cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 7 đơn vị sự nghiệp (không bao gồm cấp huyện) và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm với tổng số 24.853 cán bộ công nhân viên. Theo báo cáo của Tổng cục thủy lợi đến tháng 11/2012, cả nước có 16.238 Tổ chức Hợp tác dùng nước bao gồm 03 loại hình chủ yếu là: (i) Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi gồm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông, (ii) Tổ chức hợp tác gồm Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông; và (iii) Ban quản lý thủy nông. Trong đó, Hợp tác xã và Tổ chức hợp tác là hai loại hình chính chiếm tới 90% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước.
Số lượng từng loại hình cụ thể như sau (Bảng 1.1): Loại hình Hợp tác xã, hiện có 6.270 đơn vị chiếm 39% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước. Trong đó, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là loại hình phổ biến chiếm 95% số Hợp tác xã. Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông chỉ chiếm khoảng 5%. Loại hình Hợp tác xã làm dịch vụ thủy lợi phân bố hầu hết ở 7 vùng miền trong cả nước.
Tuy nhiên, chủ yếu tập trung (82%) ở vùng Đồng bằng Sông Hồng (47%), Bắc Trung Bộ (22%) và Miền núi phía bắc (12%). Đối với Tổ chức hợp tác, hiện có 8. Loại hình này xuất hiện phổ biến ở các tỉnh thuộc vùng Miền núi phía Bắc (40%) và Đồng bằng sông Cửu Long (39%). Ban quản lý thủy nông có 1.627 đơn vị, chiếm 10% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước.
Loại hình này tập trung phần lớn ở vùng Miền núi phía Bắc (54%) và Bắc Trung Bộ (17%). Số lượng Tổ chức Hợp tác dùng nước tập trung nhiều nhất ở vùng Miền núi phía bắc (31%) tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu long (23%) và Đồng bằng sông Hồng (21%). Các vùng miền còn lại đều chiếm dưới 10%.1 Số lượng các loại hình Tổ chức Hợp tác dùng nước Số lượng Vùng Tổng số Hợp tác Tổ chức hợp Ban QLTN xã tác Miền núi phía Bắc 4.330 878 Đồng bằng sông Hồng 3.970 471 6 Bắc Trung bộ 1.403 26 273 Duyên hải Nam Trung bộ 1.290 574 559 157 Tây Nguyên 481 52 201 228 Đông Nam bộ 567 50 460 57 Đồng bằng sông Cửu Long 3. Mỗi Hợp tác xã nông nghiệp có Điều lệ riêng quy định về tổ chức (bao gồm cả tên gọi, địa chỉ trụ sở), ngành nghề sản xuất kinh doanh theo Nghị định số 77/2005/NĐ-CP của Chính phủ.
Điều lệ của Hợp tác xã được thông qua Đại hội xã viên. Như vậy, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có làm dịch vụ thủy lợi là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoàn chỉnh có tài khoản, con dấu và đa số đều có trụ sở làm việc. Tổ chức bộ máy của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi thường có 03 bộ phận chính là Ban quản trị, Ban kiểm soát và Tổ thủy nông. Số lượng thành viên của các bộ phận này tùy theo quy mô và ngành nghề hoạt động của hợp tác xã.
Theo báo cáo của các địa phương và số liệu điều tra khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức tại 17 tỉnh trong cả nước, Ban quản trị của Hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi thường gồm từ 3-5 người, Ban kiểm soát gồm từ 1-3 người. Số lượng thành viên đội thủy nông (thủy nông viên) thường từ 1-3 người 9 trên một thôn hoặc đội sản xuất tùy theo loại hình công trình và diện tích phụ trách, bình quân từ vài ha đến khoảng 15ha/thủy nông viên. Hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ thủy lợi) và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Đối với dịch vụ thủy lợi, nhiệm vụ chính của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là quản lý, vận hành các công trình thủy lợi được giao để cấp và tiêu thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Đối với những Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý công trình thủy lợi nội đồng thuộc hệ thống lớn do tổ chức nhà nước (Doanh nghiệp) quản lý, các Hợp tác xã này thực hiện việc cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân thông qua hợp đồng dịch vụ ký kết với Doanh nghiệp. Đối với những công trình thủy lợi độc lập, Hợp tác xã nông nghiệp trực tiếp cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân. Quy mô hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thực hiện trong phạm vi xã, liên thôn hoặc thôn. Theo báo cáo của địa phương, trong những năm gần đây.
Hợp tác xã nông nghiệp xây dựng quy chế quản lý tài chính nội bộ phù hợp với đặc điểm, điều kiện hoạt động và thông qua Đại hội xã viên. Việc tổ chức thực hiện quy chế quản lý tài chính nội bộ đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công khai, dân chủ và đúng pháp luật. Hợp tác xã thực hiện báo cáo tài chính và công khai tài chính hàng năm trước Đại hội xã viên. Doanh thu của Hợp tác xã nông nghiệp bao gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ và từ các hoạt động khác.
Doanh thu từ hoạt động dịch vụ bao gồm dịch vụ tưới tiêu, nước sạch, cung cấp vật tư, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất, khuyến nông, bảo vệ thực vật, cung cấp điện sinh hoạt, chuyển giao khoa học kỹ thuật và dịch vụ phục vụ đời sống, văn hóa xã hội.