Nghiên cứu đề xuất mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước quản lý kênh tưới liên xã

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu đề xuất mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước quản lý kênh tưới liên xã, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Trường đại học

Trường Đại Học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý nước là một yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Hệ thống kênh tưới liên xã hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và phân phối nước. Mô hình tổ chức quản lý hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, dẫn đến tình trạng lãng phí và thiếu công bằng trong việc sử dụng nước. Việc nghiên cứu đề xuất mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước quản lý kênh tưới liên xã là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên nước.

1.1. Vai trò của quản lý nước

Quản lý nước không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn tác động đến đời sống của người dân. Hệ thống tưới tiêu hiệu quả giúp tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều công trình thủy lợi chưa phát huy hết công suất thiết kế, dẫn đến tình trạng thiếu nước cho các xã ở cuối kênh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện mô hình quản lý nước hiện tại.

II. Mô hình tổ chức quản lý kênh tưới liên xã

Mô hình tổ chức quản lý kênh tưới liên xã hiện tại chủ yếu dựa trên ranh giới hành chính, dẫn đến hiệu quả quản lý không đồng đều. Các tổ chức hợp tác dùng nước chưa có sự phối hợp chặt chẽ, gây ra tình trạng tranh chấp nước giữa các xã. Việc đề xuất mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước sẽ giúp cải thiện mối quan hệ giữa các bên liên quan, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý kênh tưới.

2.1. Đặc điểm của mô hình liên hiệp tổ chức

Mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước sẽ tập trung vào việc kết nối các tổ chức hợp tác dùng nước tại các xã khác nhau. Điều này không chỉ giúp phân phối nước công bằng mà còn tạo ra một cơ chế chia sẻ tài chính hợp lý giữa các bên. Sự tham gia của người dân trong quản lý sẽ được khuyến khích, từ đó nâng cao trách nhiệm và ý thức của họ trong việc bảo vệ tài nguyên nước.

III. Đánh giá hiệu quả quản lý tưới

Đánh giá hiệu quả quản lý tưới là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Các mô hình hiện tại cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả giữa các tổ chức quản lý. Mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước đã được thử nghiệm tại một số khu vực và cho thấy kết quả khả quan trong việc cải thiện tình hình tưới tiêu. Việc áp dụng mô hình này sẽ giúp nâng cao năng lực quản lý và sử dụng nước một cách bền vững.

3.1. Kết quả từ các mô hình thử nghiệm

Các mô hình thử nghiệm cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong việc phân phối nước và giảm thiểu tranh chấp giữa các xã. Người dân ở các xã cuối kênh đã có thể tiếp cận nước tưới một cách công bằng hơn. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất cây trồng mà còn cải thiện đời sống của người dân. Sự thành công của các mô hình này là minh chứng cho tính khả thi của việc áp dụng mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước trong quản lý kênh tưới liên xã.

IV. Đề xuất giải pháp phát triển mô hình

Để phát triển mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước, cần có các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Các giải pháp này bao gồm việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, tăng cường đào tạo cho cán bộ quản lý và nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của họ trong việc quản lý tài nguyên nước. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ giúp mô hình hoạt động hiệu quả và bền vững hơn.

4.1. Cơ chế phối hợp giữa các tổ chức

Cần thiết lập một cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các tổ chức hợp tác dùng nước và các cơ quan quản lý nhà nước. Điều này sẽ giúp tạo ra một hệ thống quản lý đồng bộ, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc phân phối nước. Sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính bền vững của mô hình.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước quản lý kênh tưới liên xã

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở nước ta 1.1 Hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi Theo báo cáo của Tổng cục thủy lợi (2013), đến nay, cả nước hiện có 110 hệ thống thuỷ lợi lớn (có diện tích phục vụ lớn hơn 2.831 hồ chứa các loại với tổng dung tích trữ nước trên 35,34 tỷ m3; trên 10.000 trạm bơm điện lớn; hàng chục nghìn cống tưới tiêu các loại; trên 254.800 km kênh mương (trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn); khoảng 6.100 km đê sông, trên 2.500 km đê biển và trên 25.800 km bờ bao ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vừa và lớn có diện tích phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi là cơ sở hạ tầng quan trọng, phục vụ tưới tiêu cho diện tích cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, đồng thời góp phần phòng chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế. Hàng năm, công trình thuỷ lợi trong cả nước cung cấp gần 6 tỷ m3 nước cho công nghiệp và sinh hoạt.

Bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi từ Trung ương đến địa phương đã được xây dựng tương đối đồng bộ, thống nhất, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi. Ở Trung ương đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi. Ở cấp tỉnh, đã có 62/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Thuỷ lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão). Nhiều Chi cục Thủy lợi đã làm tốt chức năng quản lý nhà nước về khai thác công trình thuỷ lợi, giúp các Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện tốt công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.

Ở các 6 cấp huyện, xã cũng đã được quan tâm hơn, nhằm tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp cơ sở. Đến nay, ở nước ta đã hình thành hệ thống cơ sở pháp lý trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, tạo nền tảng pháp lý cho các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hoạt động, như: Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 4/4/2001 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ; Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 143 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; Nghị định số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 7/5/2007 của Chính phủ về quản lý an toàn đập. Ngoài ra, còn nhiều Thông tư hướng dẫn chuyên môn của Bộ, các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được ban hành, tạo cơ sở để các địa phương tổ chức thực hiện. Tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta bao gồm hai loại hình chính là Tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các Tổ chức Hợp tác dùng nước.

Các Tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình Doanh nghiệp) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp. Các công trình còn lại chủ yếu do Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ, độc lập hoặc kênh mương và công trình nội đồng thuộc các hệ thống lớn mà công trình đầu mối do các Tổ chức nhà nước quản lý. Thực tế cho thấy, việc quản lý khai thác công trình thủy lợi của các Tổ chức hợp tác góp phần quan trọng để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Trong thời gian qua, các Tổ chức Hợp tác dùng nước trong phạm vi toàn quốc đã được các cấp, các ngành và nhiều địa phương củng cố, kiện toàn tạo điều kiện phát huy vai trò của người dân 7 tham gia quản lý công trình thủy lợi theo chủ trương xã hội hóa công tác thủy lợi của Đảng và Nhà nước.

Đến nay, hầu hết các công trình thuỷ lợi đều có đơn vị quản lý, khai thác và bảo vệ. Cả nước hiện có 96 tổ chức quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi là doanh nghiệp cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 7 đơn vị sự nghiệp (không bao gồm cấp huyện) và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm với tổng số 24.853 cán bộ công nhân viên. Theo báo cáo của Tổng cục thủy lợi đến tháng 11/2012, cả nước có 16.238 Tổ chức Hợp tác dùng nước bao gồm 03 loại hình chủ yếu là: (i) Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi gồm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông, (ii) Tổ chức hợp tác gồm Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông; và (iii) Ban quản lý thủy nông. Trong đó, Hợp tác xã và Tổ chức hợp tác là hai loại hình chính chiếm tới 90% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước.

Số lượng từng loại hình cụ thể như sau (Bảng 1.1): Loại hình Hợp tác xã, hiện có 6.270 đơn vị chiếm 39% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước. Trong đó, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là loại hình phổ biến chiếm 95% số Hợp tác xã. Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông chỉ chiếm khoảng 5%. Loại hình Hợp tác xã làm dịch vụ thủy lợi phân bố hầu hết ở 7 vùng miền trong cả nước.

Tuy nhiên, chủ yếu tập trung (82%) ở vùng Đồng bằng Sông Hồng (47%), Bắc Trung Bộ (22%) và Miền núi phía bắc (12%). Đối với Tổ chức hợp tác, hiện có 8. Loại hình này xuất hiện phổ biến ở các tỉnh thuộc vùng Miền núi phía Bắc (40%) và Đồng bằng sông Cửu Long (39%). Ban quản lý thủy nông có 1.627 đơn vị, chiếm 10% tổng số Tổ chức Hợp tác dùng nước.

Loại hình này tập trung phần lớn ở vùng Miền núi phía Bắc (54%) và Bắc Trung Bộ (17%). Số lượng Tổ chức Hợp tác dùng nước tập trung nhiều nhất ở vùng Miền núi phía bắc (31%) tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu long (23%) và Đồng bằng sông Hồng (21%). Các vùng miền còn lại đều chiếm dưới 10%.1 Số lượng các loại hình Tổ chức Hợp tác dùng nước Số lượng Vùng Tổng số Hợp tác Tổ chức hợp Ban QLTN xã tác Miền núi phía Bắc 4.330 878 Đồng bằng sông Hồng 3.970 471 6 Bắc Trung bộ 1.403 26 273 Duyên hải Nam Trung bộ 1.290 574 559 157 Tây Nguyên 481 52 201 228 Đông Nam bộ 567 50 460 57 Đồng bằng sông Cửu Long 3. Mỗi Hợp tác xã nông nghiệp có Điều lệ riêng quy định về tổ chức (bao gồm cả tên gọi, địa chỉ trụ sở), ngành nghề sản xuất kinh doanh theo Nghị định số 77/2005/NĐ-CP của Chính phủ.

Điều lệ của Hợp tác xã được thông qua Đại hội xã viên. Như vậy, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có làm dịch vụ thủy lợi là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoàn chỉnh có tài khoản, con dấu và đa số đều có trụ sở làm việc. Tổ chức bộ máy của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi thường có 03 bộ phận chính là Ban quản trị, Ban kiểm soát và Tổ thủy nông. Số lượng thành viên của các bộ phận này tùy theo quy mô và ngành nghề hoạt động của hợp tác xã.

Theo báo cáo của các địa phương và số liệu điều tra khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức tại 17 tỉnh trong cả nước, Ban quản trị của Hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi thường gồm từ 3-5 người, Ban kiểm soát gồm từ 1-3 người. Số lượng thành viên đội thủy nông (thủy nông viên) thường từ 1-3 người 9 trên một thôn hoặc đội sản xuất tùy theo loại hình công trình và diện tích phụ trách, bình quân từ vài ha đến khoảng 15ha/thủy nông viên. Hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ thủy lợi bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ thủy lợi) và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Đối với dịch vụ thủy lợi, nhiệm vụ chính của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là quản lý, vận hành các công trình thủy lợi được giao để cấp và tiêu thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.

Đối với những Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý công trình thủy lợi nội đồng thuộc hệ thống lớn do tổ chức nhà nước (Doanh nghiệp) quản lý, các Hợp tác xã này thực hiện việc cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân thông qua hợp đồng dịch vụ ký kết với Doanh nghiệp. Đối với những công trình thủy lợi độc lập, Hợp tác xã nông nghiệp trực tiếp cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân. Quy mô hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thực hiện trong phạm vi xã, liên thôn hoặc thôn. Theo báo cáo của địa phương, trong những năm gần đây.

Hợp tác xã nông nghiệp xây dựng quy chế quản lý tài chính nội bộ phù hợp với đặc điểm, điều kiện hoạt động và thông qua Đại hội xã viên. Việc tổ chức thực hiện quy chế quản lý tài chính nội bộ đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công khai, dân chủ và đúng pháp luật. Hợp tác xã thực hiện báo cáo tài chính và công khai tài chính hàng năm trước Đại hội xã viên. Doanh thu của Hợp tác xã nông nghiệp bao gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ và từ các hoạt động khác.

Doanh thu từ hoạt động dịch vụ bao gồm dịch vụ tưới tiêu, nước sạch, cung cấp vật tư, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất, khuyến nông, bảo vệ thực vật, cung cấp điện sinh hoạt, chuyển giao khoa học kỹ thuật và dịch vụ phục vụ đời sống, văn hóa xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mô hình liên hiệp tổ chức dùng nước quản lý kênh tưới liên xã - Nghiên cứu đề xuất" tập trung vào việc đề xuất một mô hình quản lý kênh tưới liên xã thông qua sự hợp tác của các tổ chức dùng nước. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết các đơn vị quản lý nước để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên nước, đảm bảo công bằng trong phân phối và nâng cao năng suất nông nghiệp. Đây là một giải pháp thiết thực cho các khu vực nông thôn, nơi mà hệ thống tưới tiêu đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông nghiệp. Để hiểu rõ hơn về tác động của các yếu tố môi trường đến nhu cầu nước, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tài nguyên nước nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước cho diện tích cây lúa khu vực huyện thọ xuân tỉnh thanh hóa. Ngoài ra, nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự phát triển của cây lúa cũng được đề cập chi tiết trong Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước và khoảng cách mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển lúa séng cù tại huyện văn chấn tỉnh yên bái. Để mở rộng kiến thức về các giải pháp quản lý nước hiệu quả, bạn có thể tìm hiểu thêm tại Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến môi trường đất bộ rễ sinh trưởng và phát triển giống lúa khang dân 18 tại thái nguyên.