MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo một nghiên cứu vừa được công bố tại Diễn đàn Khởi nghiệp trẻ 2017 cho biết, Việt Nam đang đứng đầu thế giới về Chỉ số tinh thần khởi nghiệp. Cụ thể 91% người Việt được hỏi cho biết họ xem chuyện bắt đầu một công việc kinh doanh mới như một cơ hội nghề nghiệp đáng ao ước. 95% có thái độ tích cực với tinh thần khởi nghiệp, làm chủ.
Đồng thời 96% cho rằng họ hoàn toàn cảm thấy thoải mái với việc tìm kiếm và thu hút khách hàng tiềm năng. Là một sinh viên tốt nghiệp trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân- một trường Đại học đứng đầu cả nước về lĩnh vực quản trị kinh doanh, khi còn ngồi trên ghế nhà trường em đã bắt đầu hình thành ý tưởng kinh doanh, khởi nghiệp. Từ sở thích của bản thân cũng như dựa trên những phân tích của bản thân, em nhận thấy thị trường giày dép ở Việt Nam là vô cùng tiềm năng với tỷ lệ sinh lời cao. Hiện nay, thị trường giày dép của chúng ta được phân rõ ràng thành 2 phần đó là thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu.
Trong đó, thị trường xuất khẩu chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều thị trường nội địa. Theo Hiệp hội Da giày Việt Nam, có 90% sản phẩm giày dép xuất khẩu, số còn lại được tiêu thụ tại thị trường trong nước. Đó cũng là lý do mà nhiều doanh nghiệp bỏ ngỏ thị phần nội địa để doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh. Theo công bố của Vụ Công nghiệp Nhẹ thuộc Bộ Công Thương, nhu cầu sử dụng giày dép mỗi năm tại Việt Nam khoảng 150 triệu đôi.
Theo đó, chúng ta tính toán được số lượng giày dép bán ra trong tháng tương đương 12.5 triệu đôi/tháng, tính trung bình mỗi ngày thị trường Việt Nam tiêu dùng khoảng 0,41 triệu đôi/ngày. Thông qua đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng thị trường giày dép nội địa còn rất nhiều tiềm năng đối với những người mới kinh doanh khởi nghiệp, mở ra rất nhiều cơ hội, đặc biệt là ở những nơi tập trung đông dân cư như Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn với tần suất mua hàng cao hơn những nơi khác. Qua nghiên cứu sơ bộ cùng với sự yêu thích của bản thân, em đã 2 cùng một nhóm bạn bắt đầu kinh doanh từ một cửa hàng Giày dép có tên là Lead Giày ở 486 Nguyễn Trãi- Thanh Xuân- Hà Nội. Trải qua số ít năm hoạt động, cửa hàng cũng mang về phần lợi nhuận không nhỏ.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn, các cửa hàng bán lẻ xuất hiện ngày càng nhiều với đa dạng mẫu mã, giá cả cạnh tranh. Chính bởi vậy mà vấn đề đặt ra cho cửa hàng để có thể duy trì và phát triển được ngày càng lớn. Trong quá trình phân tích và giải quyết vấn đề, em đã cùng các bạn nghiên cứu và nhận thấy mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ đang rất phổ biến và hiệu quả ở các nước trên thể giới và hiện đang được vận dụng khá nhiều ở Việt Nam. Để nâng cao khả năng cạnh tranh, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, lợi thế cạnh tranh về giá hay cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ,.thì việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường là vô cùng quan trọng.
Mặc dù, sau 3 năm hoạt động và kinh doanh, hệ thống cửa hàng cũng đã phát triển lên với 4 cơ sở, tuy nhiên, thương hiệu và sự liên kết giữa các cơ sở là chưa thực sự mang lại kết quả khả quan. Vậy làm thế nào để vận dụng một cách linh hoạt và hiệu quả nhất mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ giày dép nhất trong thời điểm cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đây đang là một câu hỏi lớn cần phải được giải quyết trong chiến lược kinh doanh của chúng em. Vì vậy, em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài " Vận dụng mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ giày dép tại cửa hàng Lead Giày " 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài cho đến nay Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng xây dựng chuỗi hệ thống bán lẻ, tiêu biểu có thể kể đến một số công trình như sau: - Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Trương Mỹ Ngân ( 2015), "Hoàn thiện hoạt động phát triển hệ thống chuỗi cửa hàng thực phẩm tiện lợi CO.OP FOOD tại Thành Phố Hồ Chí Minh đến năm 2020", ĐH Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh.
Luận văn đã đề cập đến những lý luận cơ bản về chuỗi bán lẻ. 3 Dựa trên nghiên cứu của mình, tác giả cũng đưa ra những đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh hệ thống chuỗi cửa hàng bán lẻ thực phẩm tiện lơi CO.OP FOOD tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Với những đánh giá trên, tác giả chỉ ra những ưu điểm cần phát huy cũng như những giải pháp để giải quyết những tồn tại và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống chuỗi bán lẻ thực phẩm CO.OP FOOD trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. - Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Quách Ngọc Hân ( 2017), "Quản trị chuỗi cung ứng đối với mặt hàng giày thể thao của Công ty Nike tại thị trường Việt Nam", ĐH Ngoại Thương.
Luận văn đã nghiên cứu về hoạt động của chuỗi cung ứng của Công ty Nike Việt Nam về mặt hàng giày thể thao để từ đó đưa ra những đánh giá về hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của Công ty trên thị trường Việt Nam có những ưu điểm mà những doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng và học tập. Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ những tồn tại và nguyên nhân để từ đó phân tích và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng mặt hàng giày thể thao của Công ty tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017-2025. - Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Bùi Thị Thu (2018) "Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thương hiệu của hàng bán lẻ của người tiêu dùng (Nghiên cứu điển hình các chuỗi cửa hàng bán lẻ khu vực nội thành Hà Nội", trường đại học Kinh Tế Quốc Dân. Luận án đã nghiên cứu về hành vi lựa chọn thương hiệu chuỗi cửa hàng bán lẻ của người tiêu dùng trên địa bàn Hà Nội đang diễn ra như thế nào.
Luận án cũng đã chỉ ra những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thương hiệu chuỗi cửa hàng bán lẻ của người tiêu dùng nội thành Hà Nội. Từ những nghiên cứu nói trên, tác giả đã đưa ra những giải pháp nào có thể tăng khả năng thu hút của thương hiệu chuỗi cửa hàng bán lẻ đối với người tiêu dùng nội thành Hà Nội. Các nghiên cứu nói trên đã cho thấy những thuận lợi, khó khăn trong việc mở rộng chuỗi cửa hàng bán lẻ ở Việt Nam cũng như sự cần thiết của 4 việc nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp và cách thức tổ chức quản lý cửa hàng. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về vận dụng mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ tại cửa hàng Lead Giày.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu không có sự trùng lặp về nội dung với các công trình đã nghiên cứu. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lý luận và nghiên cứu phân tích thực tiễn sự phát triển của mô hình chuỗi cửa hàng bán lẻ trên thế giới cũng như các nước trong khu vực, từ bài học thành công của một số chuỗi cửa hàng bán lẻ điển hình mà phân tích khả năng vận dụng mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ tại cửa hàng Lead Giày. Từ đó, đưa ra một số giải pháp tăng cường vận dụng mô hình kinh doanh chuỗi bán lẻ để phát triển thương hiệu Lead Giày trong lĩnh vực kinh doanh theo chuỗi cửa hàng bán lẻ giày dép. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hoá lý thuyết về bán lẻ và chuỗi bán lẻ.
Nắm rõ về ưu nhược điểm của từng mô hình chuỗi bán lẻ, đánh giá sự phù hợp của từng loại mô hình đối với nền kinh tế thị trường hiện tại và nguồn lực hiện có của cửa hàng Lead Giày để lựa chọn mô hình áp dụng phù hợp. - Phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng mô hình kinh doanh chuỗi bán lẻ tại cửa hàng Lead Giày, nêu ra những ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, với những phân tích về nguồn lực hiện tại kết hợp với xu thế thị trường đưa ra đề xuất mới nhằm vận dụng thành công mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ vào bán lẻ giày dép tại cửa hàng Lead Giày. - Đưa ra một số đề xuất nhằm vận dụng thành công mô hình chuỗi cửa hàng bán lẻ vào bán lẻ giày dép tại cửa hàng Lead Giày đề tận dụng hết nguồn lực hiện có cũng như đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Vận dụng mô hình kinh doanh chuỗi bán lẻ vào chuỗi cửa hàng bán lẻ giày dép tại Lead Giày 4. Phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi về mặt không gian Nghiên cứu để vận dụng mô hình kinh doanh theo chuỗi cửa hàng bán lẻ giày dép tại cửa hàng Lead Giày trên thị trường Hà Nội 4.
Phạm vi về mặt thời gian Các tài liệu, số liệu phân tích và nghiên cứu được trong thời gian từ năm 2015 đến 2017 và tầm nhìn đến năm 2025 Việc điều tra khảo sát thực tế tại các cửa hàng được thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng 8/2018 5. Phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp: được thu thập từ hệ thống báo cáo của từng cửa hàng trong hệ thống từ năm 2015 đến 2017 Số liệu sơ cấp : được thu thập thông qua điều tra phỏng vấn, thảo luận nhóm, bảng hỏi dành cho khách hàng, người tiêu dùng cuối cùng Đối tượng phỏng vấn điều tra: - Khách hàng Nam/Nữ, không phân biệt độ tuổi, nghề nghiệp, đã từng mua hàng tại hệ thống của hàng - Cư dân sinh sống, làm việc lân cận mỗi cửa hàng thành viên với bán kính 5km, không phân biệt độ tuổi, nghề nghiệp - Các cửa hàng trưởng + nhân viên đang làm việc tại các cửa hàng thành viên Thời gian thực hiện : Tháng 6/2018 6 5.