Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Thực trạng tai nạn đuối nước ở xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và nhận thức trong việc phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn đuối nước ở trẻ em. Chương 3: Nhu cầu, nguồn lực của cộng đồng xã Thủy An trong việc hỗ trợ phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn đuối nước ở trẻ em và mô hình huy động cộng đồng trong việc tạo dựng bể bơi di động cho trẻ em. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Các khái niệm công cụ 1. Cộng đồng Có rất nhiều định nghĩa về cộng đồng, có thể kể đến một số định nghĩa như sau: Theo giáo trình công tác xã hội đại cương định nghĩa: “Cộng đồng là một tập hợp xã hội trong đó các thành viên của nó chia sẻ những giá trị và nhận biết nhau qua những giá trị ấy, qua những mối liên hệ thuộc tính mạnh mẽ. Những liên hệ chặt chẽ ấy được thể hiện ở cá nhân quan hệ với cá nhân và cá nhân quan hệ với cộng đồng”.[7] Theo tác giả Tô Duy Hợp: “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên” [11] Theo Redo – Trường công tác xã hội và phát triển cộng đồng Philippine định nghĩa: “Cộng đồng là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tô giáo, chủng tộc…họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thát học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”.
Theo tác giả Trịnh Văn Tùng “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc. Cộng đồng ấy không nhất thiết phải sống chung trong một đơn vị hành chính lãnh thổ, họ chia sẻ những mối quan tâm về vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỳ thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung” [15] Từ các định nghĩa chung này, chúng ta có hai loại định nghĩa về cộng đồng: (1) Loại định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh đến các nhóm xã hội chung sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ, cùng chia sẻ các vấn đề xã hội chung, có mối liên hệ thuộc tính mạnh mẽ và có nghĩa vụ, trách nhiệm chung. Đặc trưng của loại định nghĩa này chủ yếu hướng đến tính địa vực, tức là ranh giới địa lý rõ rang và thường ám chỉ những cộng đồng nông thôn như một làng, một xã, một thôn, một bản…(2) Loại định nghĩa thứ hai nhấn mạnh đến tính liên kết, nhóm thuộc tính và đặc biệt là bản sắc nhóm xã hội. Đặc trưng của loại định nghĩa này là phi địa vực, tức là không xác định ranh giới địa lý, mà định hướng đến liên kết chặt chẽ qua bản sắc rieeng của nhóm thuộc tính, Đặc trưng thứ hai của cộng đồng phi địa vực là thường liên kết với nhau thông qua những công cụ truyền thông hiện đại.
Một khái niệm khác cho rằng cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng loại định nghĩa thứ nhất bởi lẽ nó phù hợp với địa bàn nghiên cứu. Huy động nguồn lực: Để hiểu rõ khái niệm “Huy động nguồn lực”, trước tiên ta cần hiểu khai niệm “huy động” và “nguồn lực”: • Huy động: Theo Từ điển Tiếng Việt thì huy động là: “điều một số đông, một số lớn nhân lực, vật lực vào một công việc gì đó” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Huy động là dùng cái có sẵn để làm thêm ra cái mình muốn có. Ý nghĩa ở đây là dùng cái vốn mình sẵn có để làm ăn bằng cách chính trực, công bằng.
Không dùng thủ đoạn hay mưu mô để tạo ra cái mình muốn có. • Nguồn lực: Theo định nghĩa chung nhất, nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó đóng vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của sự vật, hiện tượng nào đó. Tuy nhiên, có một só cách hiểu nguồn lực như sau: Theo quan niệm của Ngân Hàng Thế Giới, nguồn lực con người gồm có: + Nguồn lực tự nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, đất đai, rừng, nước, khí hậu…); vị trí địa lý (đường bộ, đường thủy, đường không) + Nguồn lực vốn: nội lực (Ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân); ngoại lực (đầu tư qua con đường hợp tác chính phủ). - Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam: Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, phẩm chất đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội… tạo nên năng lực con người của cộng đồng đó có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong các hoạt động khác.
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường…ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Có 2 nhóm nguồn lực: – Nguồn lực trong nước (nội lực): bao gồm tất cả các nguồn lực bên trong của một quốc gia. Cụ thể bao gồm 3 nguồn lực chủ yếu sau: + Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Dân cư và nguồn lao động + Đường lối phát triển KT-XH và cơ sở vật chất kỹ thuật – Nguồn lực bên ngoài (ngoại lực): bao gồm tất cả các nguồn lực bên ngoài của một quốc gia, có ảnh hưởng đến sự phát triển KT – XH của quốc gia đó. Đó là vốn , thị trường, khoa học kĩ thuật, xu thế phát triển… – Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước.
– Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những nguồn lực vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế. – Nguồn lực KT – XH, nhất là dân cư và lao động, nguồn vốn, KH – KT và công nghệ, chính sách và đường lối phát triển có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn. [4] Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, khái niệm huy động nguồn lực cộng đồng được hiểu là huy động hệ thống nguồn lực sau: Tiền/Tài chính Vật lực (Bể bơi) Nhân lực (kiến thức về phòng ngừa tai nạn đuối nước, tuyên truyền cho trẻ học bơi; kiến thức về bể bơi di động; người biết bơi và sẵn sang dạy bơi cho trẻ) Địa điểm để lắp đặt bể bơi.
Tai nạn đuối nước Theo từ điển Tiếng Việt: “Tai nạn là một sự kiện bất ngờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng và khó lường trước được.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: Đuối nước là hiện tượng khí quản của người lớn hay trẻ nhỏ bị một chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở. Hậu quả của ngạt thở lâu có thể là tử vong (chết đuối) hoặc không tử vong, nhưng gây tổn hại nghiêm trọng cho hệ thần kinh.Trong quá trong giai đoạn đầu của đuối nước, rất ít nước xâm nhập vào phổi: một lượng nhỏ nước đi vào khí quản sẽ gây co thắt cơ bám niêm mạc đường khí và ngăn không cho cả không khí và nước đến bất tỉnh. Điều này có nghĩa là một người bị chết đuối không thể la hét hoặc gọi giúp đỡ hoặc tìm kiếm sự chú ý, vì họ không thể có đủ không khí. Phản ứng đuối nước theo bản năng, cuối cùng của các phản ứng tự nhiên trong vòng 20-60 giây trước khi chìm dưới nước.
Vì vậy thời gian ngâm nước càng lâu thì tổn thương hệ thần kinh càng lớn. [13] Thời gian ngậm nước lâu hơn có liên quan đến xác suất sống sót thấp hơn và xác suất bị tổn thương thần kinh vĩnh viễn cao hơn. Ngoài ra còn có một số yếu tố nữa như chất độc hại trong nước, nhiệt độ nước. Tổ chức Y tế thế giới cũng cho biết trẻ nhỏ và học sinh là đối tượng dễ bị đuối nước nhất, đặc biệt là trẻ nhỏ và học sinh ở các nước có thu nhập trung bình và thấp.
Việt Nam là một ví dụ điển hình. Phù hợp với định nghĩa về đuối nước nêu trên, đã có nhiều trẻ nhỏ bị chết đuối ngay ở nhà, trong xô chậu rửa bát, chum vại đựng nước, bể cá cảnh, bồn cầu, bồn tắm, vũng nước nông… không bơi được. Những tai nạn đuối nước kiểu này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn đã xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Mô hình huy động cộng đồng nhằm phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn đuối nước ở trẻ em Từ các định nghĩa đã nêu trên, trong nghiên cứu này, mô hình huy động cộng đồng trong phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn đuối nước là khái niệm huy động nguồn lực cộng đồng được hiểu là huy động hệ thống nguồn lực sẵn có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong cộng đồng bao gồm nguồn lực vật chất, các thiết chế, tổ chức chính trị - xã hội, nguồn nhân lực tại địa phương; các nguồn lực này có mối liên kết cùng nhau hỗ trợ, chia sẻ những mối quan tâm chung của cộng đồng đó là vấn đề tai nạn đuối nước ở trẻ em trên địa bàn xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Các lý thuyết đƣợc vận dụng 1. Lý thuyết nhu cầu Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX. Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi Trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình. Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang.