ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thế kỷ 21, Việt Nam nói riêng và đặc biệt khu vực Đông Nam Á nói chung là một trong các điểm nóng trong việc buôn bán, săn bắt trái phép và làm suy thoái sinh cảnh (khai thác gỗ trái phép, cháy rừng, khai thác LSNG, chăn thả gia súc,.Điều đó làm tác động mạnh mẽ đến các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên, trong đó có các loài linh trƣởng. Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) là một phƣơng pháp đánh giá điều kiện thích hợp cho một loài nhất định và là một mô hình ngày càng phổ biến trong nghiên cứu bảo tồn. ENMs sử dụng mối quan hệ giữa các điểm có mặt hoặc vắng mặt và các biến môi trƣờng để dự đoán khu vực nơi mà các loài có thể tồn tại. ENMs có thể giúp xác định sinh cảnh, khu vực thích hợp cho một loài sinh sống (Pearson., 2008; Peterson và cs.
Ngoài ra, ENMs còn hỗ trợ đánh giá sự thay đổi vùng phân bố của loài trong khoảng thời gian nhất định dựa trên các kịch bản về sự thay đổi điều kiện môi trƣờng (Raxworthy và cs. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng cao về Khu hệ Linh trƣởng. Theo phân loại của Groves (2001; 2004), thú Linh trƣởng Việt Nam gồm 24 loài và phân loài, thuộc 03 họ đó là: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae). Ngoài sự đa dạng vệ loài, Việt Nam cũng là quốc gia có số loài Linh trƣởng đặc hữu cao nhất thế giới, ngoại trừ vài quốc gia có sự đa dạng và mức độ đặc hữu cao một cách đặc biệt nhƣ: Brazil, Indonesia và Madagasca.
Nomascus gabriellae đã từng đƣợc cho là có khu phân bố toàn cầu bao gồm phía tây Cam-pu-chia, miền nam Việt Nam. Tại Việt Nam, ghi nhận xa nhất về phía bắc của loài N. gabriellae là tại khu bảo tồn thiên nhiên A Yun Pa (Văn Ngọc Thịnh và cs. Nó bị chia cắt khỏi loài N.
annamensis về phía bắc bởi sông Ba chảy xuyên qua các tỉnh Gia Lai và Phú Yên tại khoảng 13°00- 13°10 vĩ độ Bắc. Về phía nam, khu phân bố hiện nay của loài này mở rộng đến 1101’39-1103’15 vĩ độ Bắc, tại khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông. 1 Vƣợn đen má vàng (Nomascus gabriellae) đƣợc đánh giá ở trong sách đỏ Việt Nam ở mức Nguy cấp (EN).Đặc biệt, chúng cũng là một trong các loài đƣợc pháp luật bảo vệ thông qua các nghị định 32/2016 của chính phủ Việt Nam. gabriellae là loài vƣợn phổ biến nhất tại Việt Nam và ít có nguy cơ tuyệt chủng nhất.Tuy nhiên, hiểu biết của chúng ta về loài Vƣợn đen má vàng là còn rất hạn chế, đặc biệt là về vùng phân bố của chúng.
Do vậy, để tập trung trả lời các câu hỏi trên, luận văn đã sử dụng mô hình ổ sinh thái để nghiên cứu đề tài “Mô hình hóa vùng phân bố của loài Vƣợn đen má vàng phía nam (Nomascus gabriellae Thomas, 1909) phục vụ công tác bảo tồn”. Đồng thời, đây sẽ là cơ sở để thực hiện các nỗ lực trong việc nghiên cứu và bảo tồn loài linh trƣởng quý hiếm này. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Họ Vƣợn (Hylobatidae) Họ Vƣợn bao gồm các loài thú cỡ nhỏ và cỡ trung bình (chiều dài cơ thể từ 38-65cm), không có đuôi, tay dài quá đầu gối. Bộ lông cá thể đực màu đen, cá thể cái có màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009).
Tất cả các loài Vƣợn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm. Tiếng hót của Vƣợn mang đặc trƣng giới (đực và cái).Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thƣờng phối hợp tiếng hót với nhau. Chức năng chủ yếu của tiếng hót để xác lập vùng lãnh thổ của mình, thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Các nghiên cứu trƣớc đây về phân loại Vƣợn chia thành hai nhóm: Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xƣơng sọ và âm thanh đã phân họ Vƣợn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Geissmann và cs. Thú họ Vƣợn phân bố ở hầu khắp các khu rừng nhiệt đới Đông Nam Á. Ở Việt Nam, chỉ có giống duy nhất là giống Vƣợn mào (Nomascus).Vƣợn mào nặng khoảng 7-8kg.Vƣợn đực có mình đen, đỉnh đầu có chóp lông nhọn, cao (mào).Dƣơng vật có mấu xƣơng dài (8-12mm) và thƣờng có mấu ở đầu.Vƣợn cái màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt, trên đỉnh đầu có đám lông đen.Lông trên đỉnh đầu mọc thẳng đứng nhƣng không tạo thành mào.
Con non mới sinh, cả con đực và cái đều có màu vàng sáng, gần giống với màu lông của Vƣợn cái trƣởng thành. Đến một năm tuổi hoặc sang năm tuổi thứ 2, bộ lông chuyển sang màu đen giống lông của vƣợn đực trƣởng thành. Riêng Vƣợn cái mang bộ lông đen 3 cho đến khi chuẩn bị trƣờng thành sinh dục (5-8 tuổi) mới đổi sang màu vàng đặc trƣng của Vƣợn cái trƣởng thành (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Cũng giống nhƣ theo phân loại học về thú Linh trƣởng, các tác giả khác nhau cũng đƣa ra những quan điểm khác nhau về số lƣợng loài thuộc giống Nomascus.
Theo Thomas Geissmann và cs (2000), giống Nomascus bao gồm 5 loài: 1. Vƣợn đen (chƣa định tên) (Nomascus. Vƣợn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vƣợn má trắng siki (N.
gabriellae) Theo Văn Ngọc Thịnh và cs (2010) tại Việt Nam có 6 loài thuộc giống Nomascus đƣợc liệt kê gồm: Tên Việt Nam Tên Khoa học 1. Vƣợn đen tuyền/ Vƣợn đen Nomascus concolor tuyền tây bắc 2. Vƣợn đen cao vít/ Vƣợn đen Nomascus nasutus tuyền đông bắc 3. Vƣợn đen má trắng Nomascus leucogenys 4.
Vƣợn siki Nomascus siki 5. Vƣợn má vàng phía bắc/ Nomascus annamensis Vƣợn trƣờng sơn 6. Vƣợn má vàng phía nam Nomascus gabriellae Vùng phân bố của giống Nomascus Các loài Vƣợn phân bố ở khắp các khu vực rừng mƣa nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi các loài Vƣợn mào (giống Nomascus) chỉ phân bố ở Đông Dƣơng và phía Nam Trung Quốc.Còn phía Tây của sông Mekong lại là vùng phân bố của một nhánh khác thuộc giống Hylobates.1: Phân bố của các loài Vƣợn thuộc giống Nomascus (Nguồn: Văn Ngọc Thịnh và cs, 2010) Có thể thấy, vùng phân bố của các loài Vƣợn là một khu vực rộng lớn và liên tục, có lẽ đây là khu vực phân bố ban đầu của chúng.Tuy nhiên, do hậu quả của việc mất sinh cảnh, cũng nhƣ nạn săn bắt của con ngƣời, nên vùng phân bố của chúng bị chia cắt mạnh.Hiện nay, các loài Vƣợn chỉ còn sót lại tại một số mảng rừng nguyên sinh, ít tác động của con ngƣời.Các trạng thái này hiện khá biệt lập và có diện tích rất nhỏ. Nomascus gabriellae xuất hiện ở các rừng thƣờng xanh ẩm ƣớt, rừng bán thƣờng xanh và rừng rụng lá hỗn hợp trên đất thấp thuộc Đông Dƣơng (Geissmann và cs.Rừng thƣờng xanh chƣa bị xâm phạm với tán rừng cao vừa phải dƣờng nhƣ là sinh cảnh tối ƣu của loài (Nguyễn Xuân Đặng & Osborn 2004; Traeholt và cs., 2005; Kenyon, 2007; Rawson và cs.
Ở Vƣờn quốc gia Cát Tiên, vƣợn đƣợc tìm thấy ở rừng thƣờng xanh, rừng bán thƣờng xanh và rừng rụng lá hỗn hợp thậm chí cả ở rừng tre nứa mặc dù kích thƣớc lãnh thổ trên rừng thƣờng xanh là nhỏ nhất (Kenyon, 2007).Kenyon (2007) phát hiện ra rằng mật độ đàn tƣơng quan với chất lƣợng sinh cảnh, ở các khu vực bị tác động và các khu vực có ít các cây to thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) có mật độ đàn 5 thấp hơn những khu vực ít bị tác động và có mật độ cây làm thức ăn cao hơn. Mối quan hệ giữa khoảng cách từ ranh giới Vƣờn quốc gia của Vƣờn quốc gia Cát Tiên và mật độ đàn cũng đã đƣợc tìm ra và nó cho thấy một khuynh hƣớng của vƣợn đen má vàng là có mật độ thấp hơn tại các sinh cảnh bị suy thoái và bị tác động (Kenyon, 2007). Nomascus gabriellae sinh sống ở nhiều độ cao khác nhau, từ 100m trên mực nƣớc biển ở Vƣờn quốc gia Cát Tiên (Eames và Robson, 1993) đến 904m trên mực nƣớc biển ở Vƣờn quốc gia Chƣ Yang Sin (Tổ chức bảo tồn chim quốc tế 2010) và lên đến 2,287m trên mực nƣớc biển ở cao nguyên Đà Lạt (Eames và Nguyễn Cử, 1994). Tuy nhiên, mật độ đàn dƣờng nhƣ giảm ở những nơi cao hơn (Eames và Robson 1993).Lãnh thổ của loài này nhỏ hơn rất nhiều so với hầu hết các loài vƣợn Nomascus ở phía bắc.
Kenyon thấy rằng kích thƣớc lãnh thổ trung bình ở Vƣờn quốc gia Cát Tiên là 41ha, cho dù điều này phụ thuộc vào sinh cảnh có diện tích là 14. Loài Vƣợn má vàng xuất hiện tại Nam Lào, Nam Việt Nam và Đông Bắc Campuchia (Geissmann và cs., 2000; Rawson và cs.Đến năm 2010, loài Vƣợn má vàng đã đƣợc tách thành hai loài khác nhau là Vƣợn trƣờng sơn và Vƣợn má vàng phía nam (VMVPN) (Văn Ngọc Thịnh và cs. Tại Việt Nam, VMVPN có vùng phân bố kéo dài với giới hạn phía Bắc ranh giới giữa tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Gia Lai và phía Nam là đến tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận (Rawson và cs., 2011; Nadler và Brockman. Vì vậy, các điểm ghi nhận đƣợc loài VMVPN trong phạm vi trên tại Campuchia và Việt Nam đã đƣợc thu thập để làm dữ liệu về sự có mặt của loài VMVPN.
Ở Campuchia, VMVPN xuất hiện ở phía Đông Campuchia (Văn Ngọc Thịnh và cs, 2010). Ranh giới tự nhiên của loài VMVPN và Vƣợn trƣờng sơn ở Campuchia có thể là khu rừng khộp rụng lá mùa khô (Rawson và cs, 2011).Tại Việt Nam, loài VMVPN có vùng phân bố rộng, đồng thời có số lƣợng quần thể khá lớn và tập trung tại một số khu rừng đặc dụng, mặc dù số lƣợng quần thể có bị giảm mạnh trong suốt một thập kỷ trƣớc (Nadler và Brockman, 2014). VQG Cát Tiên, VQG Bù Gia Mập là hai khu vực có quần thể VMVPN lớn nhất, và đƣợc coi là trọng điểm bảo tồn 6 loài VMVPN ở Việt Nam (Rawson và cs, 2011). Bên cạnh đó, tổ hợp rừng đặc dụng gồm VQG Bi Dup – Núi Bà, VQG Chƣ Yang Sin, VQG Phƣớc Bình cũng là nơi cƣ trú của một quần thể VMVPN khá lớn, tuy nhiên các cuộc điều tra ở đây vẫn khá ít (Rawson và cs, 2011).Tại một số khu vực khác, sự xuất hiện của loài VMVPN đƣợc ghi nhận nhƣng khá lẻ tẻ.