chương 1, chúng tôi đã chỉ ra: - Lợi ích của việc dạy học tích hợp xét trong mối quan hệ với sự phát triển tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề cho đối tượng học sinh trung học phổ thông. - Dạy học mô hình hóa chiếm một phần quan trọng trong sự liên kết giữa toán học và các môn khoa học khác khi chúng cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau để giải quyết cho một tình huống trong thực tế được đặt ra. - Dạy học mô hình hóa khái niệm logarit ở trường phổ thông mang tính thu hút bởi những ứng dụng mà khái niệm này mang lại cùng những vai trò công cụ của nó khi hỗ trợ giải quyết vấn đề. 17 CHƯƠNG 2: SỰ XUẤT HIỆN CỦA KHÁI NIỆM LOGARIT Ở MỘT SỐ MÔN HỌC KHÁC TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG VAI TRÒ CÔNG CỤ CỦA KHÁI NIỆM LOGARIT Để hiểu thêm về các ứng dụng thực tế liên quan đến khái niệm logarit, chúng tôi phân tích một số tình huống ở các môn lý, hóa, sinh trong chương trình THPT có sự ảnh hưởng của khái niệm này.
Cụ thể hơn, chúng tôi phân tích chương trình cùng một số sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành với những mục đích: • Tìm ra sự ảnh hưởng của khái niệm logarit thông qua một số các tình huống được đề cập trong chương trình THPT ở các môn học khác. • Phân tích các bài học cụ thể trong từng môn học gắn với khái niệm logarit nhằm chỉ ra những vai trò công cụ mà khái niệm này mang lại. Chúng tôi kết hợp cả hai bộ sách nâng cao và cơ bản cho nghiên cứu của luận văn bởi một số điểm đáng chú ý như sau: Đối với bộ sách nâng cao: được chúng tôi lựa chọn chủ yếu cho phân tích của mình với những lý do sau: - Những bài đọc thêm được các tác giả minh họa cho bài học nhằm củng cố hoặc mở rộng kiến thức khá phong phú. - Hệ thống bài tập mà bộ sách nâng cao đưa ra đáp ứng khá tốt cho nhu cầu nghiên cứu của luận văn.
Đối với bộ sách cơ bản: Cho phép chúng tôi so sánh và đối chiếu với bộ sách nâng cao để có được cái nhìn tổng quan về kiến thức mà mình muốn nghiên cứu. Sự xuất hiện của khái niệm logarit trong các tình huống thực tế ở một số môn khoa học khác như lý, hóa, sinh. Sau khi tổng hợp một số tình huống có sự xuất hiện của khái niệm logarit được giảng dạy ở trường phổ thông, chúng tôi tìm thấy một số bài học sau: Môn Sinh: Sinh trưởng của vi sinh vật 18 Giảng dạy: HKII, chương trình Sinh học lớp 10, THPT Môn Hóa: Sự điện li của nước. Chất chỉ thị axit – bazơ Giảng dạy: HKI, chương trình Hóa học lớp 11, THPT Môn Lý: Cường độ âm, mức cường độ âm Giảng dạy: HKI, chương trình Vật lý lớp 12 ở trường THPT Phóng xạ Giảng dạy: HKII, chương trình Vật lý lớp 12 ở trường THPT Chúng tôi tiến hành phân tích các tình huống xuất hiện ở những môn học mà mình đề cập và xét sự tương quan của những khái niệm này với khái niệm logarit được giảng dạy ở chương trình toán học lớp 12, HKI ở trường trung học phổ thông.
Các kết quả được chúng tôi nghiên cứu và trình bày lần lượt sau đây: 2. Bài học ở môn vật lý có xuất hiện khái niệm logarit 2. Phóng xạ Ở môn Vật lý, bài học phóng xạ được đưa vào chương trình lớp 12, HKII; chương IX: Hạt nhân nguyên tử; bài 53: Phóng xạ; phần 3: Định luật phóng xạ, độ phóng xạ. Ở thời điểm này, học sinh đã được trang bị các khái niệm mũ, logarit cùng những công thức biến đổi, tính toán có liên quan đến hai khái niệm này.
Trong phần trình bày của luận văn, có một số khái niệm ở bộ môn vật lý có thể phần nào gây khó khăn cho người đọc trong việc tiếp nhận. Vì vậy, chúng tôi bổ sung một số khái niệm trước khi đi vào phân tích như sau: - Phóng xạ: Hiện tượng một hạt nhân không bền tự phát phân rã, phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác. - Đồng vị phóng xạ: Các nguyên tử có tính phóng xạ. - Nguyên tố phóng xạ: Các nguyên tố hóa học chỉ gồm các đồng vị phóng xạ (không có đồng vị bền).
- Tia phóng xạ: Các dòng hạt chuyển động nhanh phóng ra từ các chất phóng xạ. - Ký hiệu hạt nhân: Hạt nhân nguyên tử của nguyên tố có ký hiệu hóa học X được ký hiệu là ZA X , trong đó: A là số khối, Z là số proton của hạt nhân. - Các đại lượng phóng xạ 19 Becquerel (Bq): Đơn vị đo độ phóng xạ, bằng 1 phân rã/ giây. Curie (Ci): 1 Ci = 3,7 × 1010 Bq, xấp xỉ bằng độ phóng xạ của 1 gam Ra226.
- Công thức tính số hạt nhân thu được của một chất phóng xạ sau khoảng thời gian t: t − N (t ) = N 0 .e − ltT ln 2 0, 693 l = = T T Trong đó: N 0 : Số hạt nhân (số nguyên tử) lúc đầu ứng với thời điểm t = 0. N : Số hạt nhân (số nguyên tử) thu được sau khoảng thời gian t. T : Chu kỳ bán rã của chất phóng xạ. λ : Hằng số phóng xạ, đặc trưng cho từng loại chất phóng xạ.
- Công thức tính khối lượng chất phóng xạ thu được sau khoảng thời gian t: ln 2 0, 693 “ m(t ) = m0. T T Trong đó: m0 : Khối lượng chất phóng xạ ban đầu m : Khối lượng chất phóng xạ thu được sau khoảng thời gian t. T : Chu kỳ bán rã của chất phóng xạ. λ : Hằng số phóng xạ, đặc trưng cho từng loại chất phóng xạ.
- Công thức tính độ phóng xạ của một chất phóng xạ sau khoảng thời gian t: ln 2 0, 693 “ H = H 0. T T Trong đó: H 0 : Độ phóng xạ ban đầu của chất phóng xạ H : Độ phóng xạ của chất phóng xạ sau khoảng thời gian t. T : Chu kỳ bán rã của chất phóng xạ. λ : Hằng số phóng xạ, đặc trưng cho từng loại chất phóng xạ.
Giới thiệu tình huống liên quan đến khái niệm logarit 20 Chúng tôi lựa chọn và đưa ra một số tình huống tiêu biểu đại diện cho kiểu nhiệm vụ có xuất hiện khái niệm logarit ở bộ môn vật lý như sau: “ Hạt nhân 146C là một chất phóng xạ, nó phóng ra tia β − có chu kỳ bán rã là 5730 năm. c) Trong cây cối có chất phóng xạ 146C. Độ phóng xạ của một mẩu gỗ tươi và một mẩu gỗ cổ đại đã chết cùng khối lượng lần lượt là 0,250 Bq và 0,215 Bq. Xác định xem mẩu gỗ cổ đại đã chết cách đây bao lâu? Bài giải Ký hiệu t là khoảng thời gian mà mẩu gỗ cổ đại đã chết, ta có: H = H 0 .e − λt = Với H 0 0,= 250 Bq; H 0, 215 Bq Từ đó:= H0 0, 250 lt ln= ln = ln(1,162) = 0,1508 H 0, 215 Và = 0,1508 0,1508T 0,1508.
- Một số phân tích đối với dạng bài tập nêu trên: Các kiến thức được đề cập trong tình huống : Ở môn Vật lý: - Định luật phóng xạ - Độ phóng xạ - Khái niệm chu kỳ bán rã Ở môn Toán: - Hàm số mũ - Khái niệm logarit Kiểu nhiệm vụ: Xác định thời gian phân rã t của một mẩu chất phóng xạ khi biết được độ phóng xạ ban đầu và độ phóng xạ còn lại sau khoảng thời gian t của mẩu chất phóng xạ. • Xuất hiện: Bài tập 2b, trang 280, SGK Vật lý 12 nâng cao, NXB GD Bài tập 9.18, trang 59, SBT Vật lý 12 nâng cao, NXB GD Bài tập 9.19a, trang 59, SBT Vật lý 12 nâng cao, NXB GD 21 Bài tập 2c, SGK Vật lý nâng cao, NXB GD, trang 280 • Kỹ thuật giải: - Sử dụng khái niệm: Độ phóng xạ, chu kỳ bán rã của một chất phóng xạ. - Sử dụng công thức tính độ phóng xạ của một chất phóng xạ sau khoảng thời gian t: ln 2 0, 693 H = H 0 .e − λt l = = T T - Xác định các dữ kiện giả thiết đã cho gồm có: H , H 0 , T 0, 693 - Thay các giá trị của H , H 0 , T vào công thức: H = H 0. Lúc T này tình huống được đưa về việc giải phương trình mũ ẩn số là t (t và T cùng một đơn vị đo).
- Thực hiện phép biến đổi tương đương phương trình mũ: H = H 0 .e − λt đưa về 1 H0 dạng t = ln. l H - Giải bài toán tìm t. • Yếu tố công nghệ giải thích cho kỹ thuật trên: Công thức tính độ phóng xạ của một chất phóng xạ sau khoảng thời gian t: ln 2 0, 693 H = H 0 .e − λt l = = T T Trong đó: H 0 : Độ phóng xạ ban đầu của chất phóng xạ H : Độ phóng xạ của chất phóng xạ sau khoảng thời gian t. T : Chu kỳ bán rã của chất phóng xạ.
λ : Hằng số phóng xạ, đặc trưng cho từng loại chất phóng xạ. • Yếu tố lý thuyết : “ Định luật phóng xạ: Trong quá trình phân rã, số hạt nhân phóng xạ giảm theo thời gian theo định luật hàm số mũ. Độ phóng xạ của một lượng chất phóng xạ giảm theo thời gian theo cùng quy luật hàm số mũ giống như số hạt nhân (số nguyên tử) của nó. 22 Từ phân phối chương trình dạy học vật lý 12 bài phóng xạ và khái niệm mũ, logarit trong toán học, chúng tôi nhận thấy khi tiếp cận bài học phóng xạ, học sinh đã được trang bị các kiến thức có liên quan đến khái niệm mũ, khái niệm logarit.
Đối với tình huống trên, khái niệm logarit được đưa vào hỗ trợ cho việc giải phương trình mũ tìm thời gian phân rã t của chất phóng xạ. Ở tình huống này, chúng tôi tìm ra một vai trò công cụ quan trọng của khái niệm logarit trong chương trình phổ thông, đó là giải phương trình mũ dạng a f ( x ) = b ( 0 < a ≠ 1, b > 0 ) .