MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Cơ sở vật chất, kỹ thuật của ngành GTVT là kết cấu hạ tầng của xã hội. Ngành GTVT như hệ mạch, đưa máu lưu thông khắp cơ thể trao đổi các chất của nền kinh tế. Hoạt động của ngành mang tính xã hội rộng lớn và sâu sắc.
GTVT tạo tiền đề và môi trường cho tất cả các ngành, các thành phần kinh tế ở mọi lĩnh vực phát triển. GTVT tạo điều kiện nâng cao dân trí, phát huy thế mạnh của mỗi vùng, mở rộng giao lưu, góp phần thu hút nguồn đầu tư bên ngoài. Hệ thống CBVN là một bộ phận của kết cấu hạ tầng GTVT, nó không chỉ nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu về xếp, d , bảo quản, tiếp chuyển hàng hóa, hành khách đi, đến cảng phát sinh từ nhu cầu phát triển KT-XH trong nước, mà còn có vai trò là động lực thúc đẩy quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới của các vùng, miền, địa phương ven biển và cả nước, là cơ sở để vươn ra biển xa, phát triển kinh tế Hàng hải và dịch vụ Hàng hải trở thành mũi nhọn hàng đầu trong các ngành kinh tế biển, đồng thời góp phần đắc lực vào việc củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia biển, đảo. Số liệu thống kê cho thấy, trên 90% lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu của Việt Nam đều thông qua hệ thống CBVN.
Trong đó, tỉ trọng container trong tổng lượng hàng qua các năm có sự thay đổi rõ nét. Nếu như năm 2000 nó chỉ chiếm tỉ trọng thấp nhất 13,15% trong các loại hàng, thì đến năm 2015 nó cùng với mặt hàng khô đã vươn lên đứng vị trí đầu so với các loại mặt hàng khác, với tốc độ tăng ổn định và so với các cảng khác trong khu vực Châu Á thì có tốc độ tăng cao nhất. Bên cạnh đó, tỉ lệ container hóa của Việt Nam tương đối cao, từ năm 2004 đến nay luôn giữ mức trên 30%. Từ đó có thể nhận thấy, cảng biển đóng một vai trò to lớn đối với nền kinh tế của Việt Nam, là cửa khẩu để giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, đặc biệt là vai 1 trò lưu thông hàng hóa.
Hàng container là một loại hàng quan trọng nhất trong các loại hàng hóa xuất, nhập khẩu qua hệ thống CBVN. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống CBVN phải đối mặt với một số khó khăn cần giải quyết. Mặc dù tình trạng yếu kém về chất lượng, lạc hậu về trình độ kỹ thuật công nghệ được cải thiện rõ rệt đặc biệt là cơ sở hạ tầng bến cảng , nhưng vẫn tồn tại sự không đồng bộ giữa cảng biển và cơ sở hạ tầng kết nối. Cụ thể hơn, đó là sự không đồng bộ về quy mô, đặc biệt về tiến trình thực hiện giữa các dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật kết nối đến cảng bao gồm cả luồng vào cảng và đầu mối logistics làm ảnh hưởng rất lớn tới năng lực hoạt động và hiệu quả đầu tư của cảng.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu hàng, thừa cảng tại một số khu vực cảng. Đó là sự chưa đồng bộ giữa cảng và mạng lưới giao thông kết nối ở một số nhóm cảng điển hình. Nguyên nhân sâu xa là công tác quy hoạch đã không theo kịp sự tăng trưởng của lượng hàng đến cảng và điều này là do vấn đề dự báo lượng hàng thông qua cảng chưa thực sự chính xác. Nếu xây dựng được mô hình dự báo chính xác tổng lượng hàng nói chung và lượng hàng container nói riêng thông qua cảng biển trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn không chỉ giúp cho công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển một cách khoa học, chính xác, tránh được hiện tượng thừa cảng, thiếu hàng, cảng biển quá tải, hệ thống giao thông kết nối với cảng biển không đồng bộ, gây ách tắc cho việc đưa rút hàng vào ra) khỏi cảng biển, mà còn giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh khai thác cảng biển, kinh doanh xuất nhập khẩu và logistics có thể xây dựng chiến lược kinh doanh một cách hiệu quả, sát thực tế.
Và sau cùng là mang lại hiệu quả kinh tế cho cả nền kinh tế quốc dân, tránh được việc đầu tư cảng biển manh mún, không hiệu quả, gây lãng phí nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội. Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dự báo lượng hàng thông qua cảng, trong đó có dự báo hàng container để phục vụ cho lập chiến 2 lược, quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, nhóm CBVN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và các dự án đầu tư xây dựng cảng của Bộ GTVT. Nhưng những dự báo này chỉ mang tính chất vĩ mô, độ chính xác không cao, phương pháp dự báo còn tồn tại nhiều nhược điểm, thời gian đưa ra các dự báo đã cũ. Có thể nhận thấy rõ nhất khi so sánh kết quả dự báo trong QĐ 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 đã dự báo tổng lượng hàng thông qua CBVN là 500 - 600 triệu T, vượt xa với lượng hàng thực tế thông qua cảng là 427 triệu T sai số đạt 17% đến 40% [26].
Và gần đây nhất, theo QĐ 1037/QĐ- TTg ngày 24/06/2014 về điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống CBVN đến năm 2020, định hướng đến 2030 thì con số dự báo lượng hàng thông qua cảng thấp hơn thực tế là 400 – 410 triệu T sai số đã giảm còn 7%. [37] Bên cạnh đó, có thể nhận thấy, đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào chỉ tập trung vào nghiên cứu dự báo lượng hàng container thông qua các cảng biển và qua hệ thống CBVN. Trong QĐ số 2190 không đề cập đến dự báo lượng hàng container thông qua cảng biển còn QĐ số 1037 thì lại gộp dự báo chung cho hàng container và hàng tổng hợp. Chính vì vậy, rất cần có những mô hình dự báo lượng hàng container thông qua cảng biển có tính chất tổng quát, khoa học, độ chính xác cao để phục vụ cho công tác lập điều chỉnh) chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển; công tác lập kế hoạch đầu tư phát triển cảng biển, đội tàu VTB và các công trình hạ tầng giao thông bổ trợ khác.
Xuất phát từ thực tế trên và yêu cầu phát triển của khoa học dự báo trong ngành VTB tác giả đã lựa chọn đề tài “Xây dựng mô hình dự báo lƣợng hàng container thông qua cảng biển Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng được các mô hình dự báo phù hợp, có độ chính xác và độ tin cậy cao về tổng lượng hàng container thông qua hệ thống CBVN nói chung, lượng hàng container thông qua một số 3 cảng biển nói riêng. Để đạt được mục đích này, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về dự báo, các phương pháp dự báo nói chung, cũng như dự báo lượng hàng container thông qua cảng biển nói riêng; - Nghiên cứu thực trạng công tác dự báo lượng hàng container thông qua CBVN, thể hiện trong các quyết định về quy hoạch, chiến lược phát triển hệ thống CBVN hiện nay và thực trạng lượng hàng container thông qua CBVN từ năm 1991-2016. Từ đó so sánh mức độ chính xác của các số liệu dự báo trên; - Nghiên cứu phân tích tìm ra quy luật của lượng hàng container thông qua CBVN qua thời gian; - Nghiên cứu các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến lượng hàng container thông qua cảng biển, hay thiết lập mối tương quan giữa các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển KT-XH với lượng hàng container thông qua CBVN; - Xây dựng các mô hình và lựa chọn mô hình dự báo phù hợp nhất cho lượng hàng container thông qua hệ thống CBVN, CBKVHCM, CBKVHP, CCL và CTCPCHP.
Từ các mô hình dự báo đã lựa chọn, tiến hành dự báo lượng hàng container thông qua các cảng biển trên cho năm 2016 để kiểm định độ chính xác của mô hình dự báo đã lựa chọn , dự báo đến năm 2020 và năm 2030; - Xây dựng và lựa chọn mô hình dự báo ngắn hạn lượng hàng container thông qua CCL và CTCPCHP, sau đó tiến hành dự báo lượng hàng container thông qua hai cảng trên theo các tháng của năm 2016 để kiểm định độ chính xác của mô hình dự báo đã lựa chọn và các tháng của năm 2017. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3. Đối tƣợng nghiên cứu của luận án 4 Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình dự báo áp dụng cho dự báo lượng hàng container thông qua cảng biển, cụ thể là: - Các mô hình dự báo theo phương pháp ngoại suy thông qua hàm tuyến tính, các mô hình dự báo theo phương pháp ngoại suy bằng mô hình hồi quy đơn và các mô hình dự báo theo phương pháp ngoại suy bằng mô hình hồi quy bội; - Các mô hình dự báo trong ngắn hạn. Phạm vi nghiên cứu của luận án Về không gian: Dự báo lượng hàng container thông qua hệ thống CBVN, CBKVHCM, CBKVHP, CCL và CTCPCHP.
Về thời gian: Nghiên cứu lượng hàng container thông qua CBVN từ năm 1991 đến năm 2016, dự báo đến năm 2020 và 2030; dự báo ngắn hạn theo các tháng của năm 2016 và 2017 cho CCL và CTCPCHP. Cụ thể có 3 mốc thời đoạn dự báo như sau: + Dự báo trong mẫu: năm 1991 đến năm 2015, số liệu được thu thập từ năm 1991 đến năm 2015; + Dự báo kiểm định: năm 2016, số liệu năm 2016 dùng để so sánh thực tế với kết quả dự báo, kiểm nghiệm lại mô hình dự báo đã xây dựng; + Dự báo tiên nghiệm: theo tháng của năm 2017, cho năm 2020 và 2030. Về nội dung: Dự báo lượng hàng container thông qua CBVN cũng theo chiều xuất, nhập, nội địa, theo hai đơn vị tính là T và TEU. Phƣơng pháp nghiên cứu luận án Luận án sử dụng kết hợp giữa các phương pháp sau: - Phương pháp điều tra thống kê để thu thập số liệu thứ cấp về lượng hàng thông qua cảng biển, cũng như số liệu về các nhân tố ảnh hưởng.
Các số liệu trên được thu thập từ các cơ quan quản lý có liên quan như Tổng cục 5 Thống kê, Cục Thống kê thành phố Hải Phòng, Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, Cục Hàng hải Việt Nam, CCL, CTCPCHP. - Phương pháp tổng hợp, thống kê, để tập hợp số liệu, phân tích và đánh giá số liệu.