CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về đường cong chữ U lộn ngược của Kuznets. Miêu tả Đường cong Kuznets Đường cong Kuznets là giả thuyết được đề ra bởi nhà kinh tế học Simon Kuznets trong những năm 1950 và 1960 cho rằng khi một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, các lực thị trường khiến bất bình đẳng kinh tế gia tăng sau đó lại giảm xuống theo một đường cong chữ U ngược. Đường cong Kuznets ở trục tung và trục hoành thường có nhiều biến như bất bình đẳng thu Hình 1.1 Đường cong Kuznets nhập hay hệ số Gini ở trục Y và tăng trưởng kinh tế, thời gian hay thu nhập trên đầu người ở trục X.
Ngoài ra, ta có tỷ số Kuznets, tỷ số này là tỷ lệ giữa tỷ trọng thu nhập của x% số dân có mức thu nhập cao nhất và tỷ trọng thu nhập y% số dân có mức thu nhập thấp nhất ( x có thể khác so với y và nhận các giá trị 5%, 10%, 20%. Vào đầu thập niên 90, hai nhà kinh tế người Mỹ là Gene Grossman và Alan Krueger khi đang tìm hiểu số liệu về mối tương quan giữa GDP với chất lượng không khí và nguồn nước trên khoảng 40 quốc gia, họ thấy rằng cùng với sự gia tăng GDP, vấn đề ô nhiễm đầu tiên là tăng cao rồi sau đó lại giảm dần, tạo ra biểu đồ hình chữ U ngược 4 c khi phác họa trên giấy. Vì trông rất giống với đường cong Kuznets, đường cong hình chữ U ngược này cũng sớm được biết đến với cái tên là đường cong Môi trường Kuznets (Environmental Kuznets Curve). Ở đường cong Môi trường Kuznets, trục tung sẽ là các biến như mức tàn phá môi trường, mức ô nhiễm nói chung, mức ô nhiễm của một hoặc nhiều chất,… còn các biến tương tự với đường cong Kuznets như GDP, tăng trưởng kinh tế, thời gian,… sẽ ở trục tung.
Tổng quan về mối quan hệ giữa Tăng trưởng kinh tế và Chất lượng môi trường Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường là tâm điểm của nhiều tranh cãi. Một bên cực cho rằng kinh tế phát triển mạnh thì sẽ chắc chắn dẫn đến sự tàn phá môi trường hay kể cả sự sụp đổ của nền kinh tế và thiên nhiên. Còn một bên cực kia nói những vấn đề môi trường đáng kể sẽ ắt hẳn tự giải quyết khi kinh tế phát triển đến một mức nào đó. Một nguyên nhân cho cuộc tranh luận dai dẳng này là do chúng ta không có đủ bằng chứng và số liệu cho thấy mối quan hệ giữa chất lượng môi trường ở các mức thu nhập khác nhau, kèm với việc ta không có dữ liệu của một số lượng lớn nước trên thế giới.
Ngoài ra, mối quan hệ giữa thu nhập và chất lượng môi trường thường rất phức tạp vì chúng thường liên quan đến nhiều nhân tố như mức độ phát triển công nghệ, cơ cấu thị trường kinh tế… Ví dụ, ở một số nước phát triển với khu vực công nghiệp chiếm phần lớn thường gây nhiều ô nhiễm hơn so với các nước phát triển chú trọng khu vực dịch vụ. Theo giả thuyết của Grossman và Krueger, phát triển kinh tế và chất lượng môi trường là hai vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ và mật thiết theo cả hai xu hướng thuận chiều và nghịch chiều. Khi nền kinh tế mới bắt đầu bước vào quá trình phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, tăng trưởng kém, sự tịnh tiến đi lên về thu nhập hay nền kinh tế nói chung kéo theo mức độ ô nhiễm môi trường tăng cao tới một mức độ nhất định mà tại đó số đo về ô nhiễm môi trường đại ngưỡng cao nhất. 5 c Qua điểm nút đó, ta thấy rằng càng về sau, thu nhập bình quân tăng hay sự tích cực trong phát triển kinh tế sẽ càng làm giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường.
Tính ứng dụng và hạn chế của mô hình 1. Tính ứng dụng của mô hình Tính ứng dụng vào thực tế của cả hai mô hình Đường cong Kuznets và Đường cong Môi trường Kuznets vẫn đang là tâm điểm của nhiều tranh cãi, và nhiều bằng chứng cho rằng việc ứng dụng những mô hình này vào nhiều trường hợp khác nhau thường đi theo hai hướng. Đối với Đường cong Kuznets, trong tiểu sử về phương pháp khoa học của Simon Kuznets, nhà kinh tế học Robert Fogel lưu ý việc chính Kuznets đã có nghi ngờ về tính tin cậy của dữ liệu mà ông đã dùng để tạo nên giả thuyết Đường cong Kuznets. Fogel nhấn mạnh ý kiến của Kuznets: “.even if the data turned out to be valid, they pertained to an extremely limited period of time and to exceptional historical experiences…” “.kể cả khi dữ liệu đấy có đúng đi chăng nữa, chúng chỉ liên quan đến một khoảng thời gian cực kỳ hẹp và những kỳ tích lịch sử hiếm có…” Fogel cho rằng, mặc kệ những cảnh báo này, những hạn chế này của Kuznets dường như đã bị lờ đi và Đường cong Kuznets đã được đưa lên “tầm của các định luật” bởi các nhà kinh tế học khác.
Tương tự đối với đường cong Môi trường Kuznets, Grossman và Krueger cũng cẩn thận đưa ra cảnh báo về phát hiện của mình. Họ thừa nhận dữ liệu chỉ có các số liệu về ô nhiễm nước và không khí diện hẹp, chứ không có số liệu về lượng thải khí nhà kính, sự mất đa dạng sinh học, thoái hóa đất, phá rừng… trên phạm vi toàn cầu. Họ cũng ghi nhận rằng thu nhập quốc dân phụ thuộc vào tình hình chính trị, công nghệ, và kinh tế lúc đó. Và họ chỉ ra rằng sự trùng hợp giữa tăng trưởng 6 c kinh tế và giảm ô nhiễm mà họ tìm ra không chứng minh được là sự phát triển tự nó dẫn đến việc cải thiện môi trường.
Hạn chế của mô hình Đối với đường cong Kuznets, những số liệu lấy từ World Bank, chỉ số Gini ở những quốc gia Châu Âu như Liên Bang Nga, Anh, Pháp, Đức… đều đi theo một quỹ đạo chữ U ngược theo như giả thuyết của Kuznets. Nhưng Na Uy và Hà Lan trong quá trình công nghiệp hóa đã chứng kiến bất bình đẳng thu nhập ở nước họ giảm dần khi phát triển từ một nền kinh tế nông nghiệp qua nền kinh tế công nghiệp. East Asia Miracle - Kỳ tích Đông Á cũng đi ngược lại với giả thuyết của Kuznets và thường được dùng để đánh giá tính tin cậy của Đường cong Kuznets. Ở những đất nước Đông Á này (Nhật Bản, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Bốn con Rồng Châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong) sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh chóng và mạnh mẽ, nhưng tuổi thọ trung bình ở EAM tiếp tục tăng và tỷ lệ nghèo tiếp tục giảm bất chấp giả thuyết bước đầu tăng trưởng phải đi cùng với bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng thu nhập là cái cần thiết để có được một sự phát triển toàn diện của nền kinh tế của Kuznets.
Khi phân tích tại sao lại có sự khác biệt giữa những nước Anh, Pháp, Đức, Liên Bang Nga so với Na Uy, Hà Lan và những nước Kỳ tích Đông Á, nhiều giả thuyết đã được đề ra nhằm giải đáp điểm bất thường này, một số nhà kinh tế cho rằng đây là sự ảnh hưởng của sự khác biệt về văn hóa ở những châu lục khác nhau, nhưng giả thuyết này chưa tính đến sự khác biệt của Na Uy và Hà Lan so với những nước còn lại ở châu Âu. Một số giả thuyết khác lại tập trung vào việc chính trị mới là tác nhân chính cho việc phân bổ đồng đều của thu nhập. Daron Acemoglu và James Robinson cho rằng bất bình đẳng thu nhập do công nghiệp hóa tư bản chứa đựng những “mầm mống hủy diệt chính nó” và mở đường cho cải tổ chính trị và lao động ở Anh và Pháp, cho phép thu nhập được phân chia một cách đồng đều. Ở các nền kinh tế Đông Á, mặc dù chưa có cải cách chính 7 c trị về thu nhập nào lúc các nước này phát triển mạnh mẽ nhưng những chính sách cải cách đất ở những năm 1940 và 1950 đã giúp cải thiện sự bất bình đẳng thu nhập.
Các quan sát của Acemoglu và Robinson cho rằng, ở những góc độ nhất định thì chính trị mới là yếu tố quyết định mức bất bình đẳng chứ không nhất thiết phải là các yếu tố kinh tế. Tương tự, đối với đường cong Môi trường Kuznets, ta cũng có nhiều bằng chứng phủ định giả thuyết của Grossman và Krueger. Roger Person viết ở trong cuốn sách “Natural Resource and Environmental Economics” (2003) rằng việc sử dụng năng lượng, đất và tài nguyên có khả năng sẽ không giảm với việc tăng thu nhập. Cho dù tỉ lệ tiêu dùng năng lượng trên GDP r đã giảm, tổng sử dụng năng lượng cũng như tổng xả thải các khí nhà kính ở các nước đang phát triển vẫn đang tăng.
Ngoài ra, trạng thái của nhiều “dịch vụ hệ sinh thái” quan trọng như sự cung cấp nước ngọt, độ màu mỡ của đất và thủy hải sản vẫn đang trên đà đi xuống ở nhiều nước đang phát triển. Thomas Piketty, trong sách “Capital in the Twenty-First Century” (2013), phủ nhận tính hiệu quả của Đường cong Kuznets, ông cho rằng ở một số nước giàu, mức bất bình đẳng thu nhập ở thế kỷ 21 đã vượt mức của những năm 1920. Ông đưa ra lời giải thích răng khi tỷ lệ hoàn vốn của tư bản vượt tỷ lệ của tăng trưởng kinh tế trong một khoảng thời gian dài thì sẽ dẫn đến “tụ tập của cải”. Bruce Yandle viết trong “The Environmental Kuznets Curve: A Primer” (2014) rằng Mỹ đang gặp khó khăn trong việc đạt được mức thu nhập tối thiểu để đối phó với một số tác nhân ô nhiễm như khí thải Cacbon.
Ông nói khí thải Cacbon không đi theo đường cong của Kuznets bởi vì hầu hết các tác nhân ô nhiễm khác như chì và lưu huỳnh tạo ra một vấn đề trực tiếp và trước mắt, nên đòi hỏi cần được đối phó khẩn cấp hơn. Khi một nước phát triển, việc xử lý các vấn đề ảnh hưởng liên tục và trực tiếp đến đời sống người dân được đưa lên hàng đầu, dẫn đến việc xử lý các vấn đề dài hạn như ảnh hưởng của khí nhà kính bị cho ra lề. Vì thế, cho dù với 8 c một nước có thu nhập cao như Mỹ, xả thải khí Cacbon vẫn không đi theo mô hình EKC. Điều này cho thấy rằng đường cong Môi trường Kuznets chỉ áp dụng được cho một số nhân tố trong một thời điểm nhất định.
Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu vẫn bất đồng về hình dạng của mô hình khi được đặt vào một thước đo thời gian lớn.