Luận văn mô hình chính quyền phường khi không tổ chức HĐND

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền phường khi không có HĐND. Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp cải cách bộ máy hành chính.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả

Trần Thị Yến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Mô hình chính quyền phường không có HĐND Tổng quan và bối cảnh pháp lý

Mô hình chính quyền phường không có Hội đồng nhân dân (HĐND) là một đề xuất cải cách hành chính nhằm tinh gọn bộ máy nhà nước ở cấp cơ sở. Trong hệ thống chính quyền địa phương Việt Nam, cấp phường thuộc đô thị, thường được tổ chức theo mô hình lưỡng viện gồm HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động của HĐND phường nhiều khi mang tính hình thức, thiếu hiệu lực thực chất trong giám sát và ra quyết sách. Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thị Yến (2012, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ rõ: “HĐND phường chưa phát huy đầy đủ vai trò đại diện ý chí, nguyện vọng của nhân dân do quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế và sự chồng chéo chức năng với UBND”. Từ đó, việc thí điểm mô hình chính quyền phường không có HĐND trở thành một hướng đi hợp lý trong cải cách nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mô hình này không chỉ phù hợp với đặc thù quản lý đô thị mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, giảm chi phí vận hành và tăng tính minh bạch. Các cơ sở lý luậnthực tiễn pháp lý từ Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các nghị quyết của Quốc hội đều tạo điều kiện cho việc thí điểm mô hình này trong điều kiện đảm bảo dân chủ và trách nhiệm giải trình.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của mô hình chính quyền phường không có HĐND

Mô hình này loại bỏ cơ quan dân cử HĐND ở cấp phường, giao toàn bộ quyền hành pháp và một phần quyền lập pháp cho UBND phường dưới sự giám sát trực tiếp của HĐND quận và nhân dân. Đặc điểm nổi bật là tinh gọn bộ máy, tập trung quyền lực hành chính, và tăng cường trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Theo Trần Thị Yến (2012), mô hình này phù hợp với đặc điểm đô thị hóa cao, nơi nhu cầu quản lý hành chính vượt trội so với nhu cầu lập pháp cấp phường.

1.2. Căn cứ pháp lý và quá trình hình thành đề xuất

Từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 2013, hệ thống chính quyền địa phương luôn được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển. Nghị quyết số 26/2008/NQ-CP và các văn bản hướng dẫn sau này cho phép thí điểm không tổ chức HĐND ở cấp huyện, quận, phường. Các nghiên cứu của PGS.TS Bùi Xuân Đức và TS. Văn Thị Thu cũng khẳng định tính hợp hiến và khả thi của mô hình này trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay.

II. Thách thức và hạn chế của mô hình chính quyền phường hiện hành

Mô hình chính quyền phường hiện hành với đầy đủ HĐND và UBND bộc lộ nhiều hạn chế trong thực tiễn vận hành. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự chồng chéo chức năng giữa hai cơ quan, dẫn đến lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả quản lý. HĐND phường thường chỉ họp 1-2 lần mỗi năm, chủ yếu thông qua nghị quyết do UBND soạn thảo, thiếu khả năng phản biện độc lập. Theo luận văn của Trần Thị Yến (2012), “nhiều đại biểu HĐND phường kiêm nhiệm, không có chuyên môn sâu, dẫn đến chất lượng giám sát yếu kém”. Ngoài ra, quy mô nhỏ của phường (thường dưới 20.000 dân) khiến việc tổ chức một cơ quan dân cử đầy đủ trở nên không cần thiết về mặt kinh tế và hiệu quả. Người dân cũng ít quan tâm đến hoạt động của HĐND phường do thiếu kênh tiếp cận thông tin minh bạch. Điều này làm giảm tính dân chủ thực chất – một nguyên tắc cốt lõi của nhà nước pháp quyền. Các bất cập trong tổ chức bộ máy còn thể hiện qua việc phân công nhiệm vụ không rõ ràng, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra sự cố quản lý đô thị, trật tự công cộng hay giải quyết khiếu nại. Những thách thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tổ chức chính quyền cấp phường theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

2.1. Sự chồng chéo chức năng giữa HĐND và UBND phường

HĐND phường có chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng, nhưng trên thực tế, các quyết sách thường do UBND chủ động xây dựng. Sự thiếu độc lập này làm suy giảm vai trò của HĐND, biến cơ quan dân cử thành “cánh tay nối dài” của hành pháp. Đây là mâu thuẫn cấu trúc cần được giải quyết trong cải cách thể chế.

2.2. Hạn chế về năng lực đại biểu và sự tham gia của người dân

Đại biểu HĐND phường đa số là cán bộ kiêm nhiệm, không được đào tạo chuyên sâu về lập pháp hay giám sát. Đồng thời, sự tham gia của người dân vào hoạt động HĐND gần như không có do thiếu cơ chế tiếp cận và phản hồi. Điều này làm xói mòn tính đại diện – một trụ cột của dân chủ địa phương.

III. Phương pháp triển khai mô hình chính quyền phường không có HĐND

Triển khai mô hình chính quyền phường không có HĐND đòi hỏi một lộ trình khoa học, có kiểm soát và dựa trên nguyên tắc dân chủ – pháp quyền – hiệu quả. Trước hết, cần sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương để tạo khung pháp lý cho việc thí điểm. Tiếp theo, UBND phường phải được trao quyền đầy đủ hơn trong quản lý ngân sách, quy hoạch và nhân sự, đồng thời chịu sự giám sát chặt chẽ từ HĐND quận và các tổ chức xã hội. Một phương pháp then chốt là tăng cường cơ chế giải trình và minh bạch thông tin, như công khai nghị quyết, báo cáo tài chính và kế hoạch hoạt động trên cổng thông tin điện tử. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của UBND phường dựa trên chỉ số hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Luận văn của Trần Thị Yến (2012) đề xuất: “Cần tổ chức các hội nghị nhân dân định kỳ để thay thế vai trò giám sát của HĐND, kết hợp với vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể”. Đây là cách tiếp cận dân chủ trực tiếp, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Việc triển khai cũng cần đi kèm đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực quản trị đô thị cho chủ tịch phường và đội ngũ công chức.

3.1. Cải cách pháp lý và điều chỉnh thể chế

Cần sửa đổi các điều luật liên quan đến tổ chức HĐND cấp phường, đồng thời ban hành quy chế thí điểm rõ ràng về phạm vi, thời gian và tiêu chí đánh giá. Việc này đảm bảo tính hợp hiếnan toàn pháp lý trong quá trình đổi mới.

3.2. Tăng cường giám sát và minh bạch thông tin

Thay vì HĐND, cơ chế giám sát được chuyển sang HĐND cấp trên, Mặt trận Tổ quốc và người dân qua các kênh số. Công khai minh bạch là chìa khóa để duy trì niềm tin và trách nhiệm giải trình trong mô hình mới.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả thí điểm mô hình không có HĐND phường

Mặc dù chưa có thí điểm chính thức ở cấp phường, nhưng kinh nghiệm từ mô hình không tổ chức HĐND huyện, quận tại một số địa phương (như Đà Nẵng, Hà Nội giai đoạn 2009–2016) cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, các đơn vị thí điểm ghi nhận giảm 15–20% chi thường xuyên, rút ngắn thời gian ra quyết định hành chính, và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Tuy nhiên, cũng xuất hiện một số rủi ro như thiếu cơ chế phản biện độc lập và nguy cơ lạm quyền nếu không có giám sát hiệu quả. Luận văn của Trần Thị Yến (2012) nhấn mạnh: “Thành công của mô hình phụ thuộc vào việc xây dựng hệ thống kiểm soát quyền lực song song với việc trao quyền”. Ở cấp phường – nơi tiếp xúc trực tiếp với người dân – việc duy trì cơ chế phản hồi nhanhhội nghị khu dân cư định kỳ là yếu tố then chốt để bù đắp vai trò giám sát của HĐND. Các nghiên cứu của PGS.TS Trương Đắc Linh cũng chỉ ra rằng, tại đô thị lớn, nhu cầu quản lý hành chính vượt trội hơn nhu cầu lập pháp cấp cơ sở, do đó mô hình chính quyền phường không có HĐND là xu thế tất yếu trong cải cách nhà nước hiện đại.

4.1. Bài học từ thí điểm không tổ chức HĐND ở cấp huyện quận

Các địa phương thí điểm cho thấy hiệu quả quản lý tăng, chi phí giảm, nhưng cần đi kèm cơ chế giám sát mạnh từ cấp trên và xã hội dân sự. Đây là kinh nghiệm quý cho việc mở rộng xuống cấp phường.

4.2. Đề xuất chỉ số đánh giá hiệu quả mô hình mới

Các chỉ số như mức độ hài lòng của người dân, tỷ lệ giải quyết khiếu nại, minh bạch ngân sách, và tốc độ xử lý thủ tục hành chính nên được dùng để đo lường thành công của mô hình chính quyền phường không có HĐND.

V. Tương lai và khuyến nghị chính sách cho mô hình chính quyền phường không có HĐND

Tương lai của mô hình chính quyền phường không có HĐND gắn liền với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩachính quyền đô thị hiện đại. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, nhu cầu quản trị tinh gọn, linh hoạt và lấy người dân làm trung tâm ngày càng cấp thiết. Mô hình này không phải là xóa bỏ dân chủ, mà là chuyển đổi hình thức dân chủ từ gián tiếp sang trực tiếp, từ nghị trường sang hiện trường. Khuyến nghị chính sách bao gồm: (1) Sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương để cho phép thí điểm tại các phường thuộc đô thị loại I trở lên; (2) Xây dựng quy chế giám sát của HĐND quận và Mặt trận Tổ quốc đối với UBND phường; (3) Ứng dụng công nghệ số để tăng tương tác giữa chính quyền và người dân; (4) Đào tạo đội ngũ cán bộ phường theo chuẩn quản trị đô thị hiện đại. Như PGS.TS Bùi Xuân Đức từng nhấn mạnh: “Cải cách tổ chức bộ máy không phải là cắt giảm đơn thuần, mà là tái cấu trúc để phục vụ dân tốt hơn”. Mô hình chính quyền phường không có HĐND chính là một bước đi chiến lược trong hành trình đó.

5.1. Định hướng pháp lý và lộ trình thí điểm

Cần có nghị quyết của Quốc hội cho phép thí điểm trong 3–5 năm tại các thành phố lớn, với đánh giá độc lập định kỳ. Điều này đảm bảo tính thận trọngkhả năng nhân rộng.

5.2. Vai trò của công nghệ và xã hội dân sự

Công nghệ số giúp tăng minh bạch, thúc đẩy tham giagiám sát từ xa. Xã hội dân sự, đặc biệt là các tổ chức cộng đồng, cần được trao quyền để tham gia phản biện chính sách ở cấp phường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NOI KHOA LUAT TRAN TID YEN MO HINH CHiINH QUYEN PHUONG TRONG DIEU KIEN KHONG TO CHUC HOI DONG NHAN DAN LUẬN VAN THAC ST LUAT HỌC HA NOT - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI KHOA LUẬT TRAN THI YEN MÔ HỈNH CHÍNH QUYÊN PHƯỜNG TRONG DIEU KIEN KHONG TO CHUC HOI DONG NHAN DAN Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Masé : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa hạc: PG&.T§ Bùi Xuân Đức HÀ NỘI - 2012 MUC LUC Trang Trang phu bia lời cam đoan Muc luc Danh mục các chữ viết tắt MÔ ĐÀU I Chương Ï: CHÍNH QUYÊN PHƯỜNG VÀ HỘ MAY CHÍNH QUYỀN 8 PHƯỜNG - QUÁ TRÌNH XÂY DING VA PHAT TRLEN 1. Chỉnh quyển phường và bô máy chính quyển phường trong hệ — # thống chính quyền địa phương, 1. Quá trình tổ chức chính quyển phường từ trước dến nay 12 1. Tổ chức quản lý "cấp phường" giai doạn 1945 - 1980 12 1.

Tổ chức chính quyền phường giai đoạn Hiến pháp 1980 - 1992 21 1. _ Tổ chức chính quyển phường theo pháp luật hiện hành 25 1.1 Hội đồng nhân dân phường, 26 1. Uy ban nhân dân phường, 31 1. Những han ché trong m6 hinh chính quyền phường hiện nay 34 Chương 2: MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG TRONG ĐIÊU 36 KIỆN KHÔNG TỎ CHỨC HỘI ĐÔNG NHÂN DÂN 21 Sự cần thiết khách quan của việc thí điểm không tổ chức Hội 36 đồng nhân dân phường, 2.

Vân dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dung chính quyền 37 dân chủ nhân dân 2. Tổ chức chỉnh quyền phường theo mô hình chính quyền đô thị 39 lý luận va thực tiễn nhằm hướng tới một tổ chức hợp lý bộ máy chính quyền phường trong điểu kiên không t6 chức HĐND phường cũng như trong quá trình xây dựng và hoàn thiên Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay, đã có nhiều để tài nghiên cứu, các bài viết về tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương ở nước la. Có thể kế đến như: "fô chức bộ máy và xây dựng chính quyên cấp xã" do 'LS.

Nguyễn Dặng Dinh Lục chủ biên, được Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành tháng 03 năm 2007; "Chinh quyền địa phương ở Việt Nam: quá trình hình thành, thạy đổi và vấn đề đôi mới hiện nay" của PGS.TS Trương Đắc Linh; "Đỗi mới, hoàn thiện bộ máp nhà nước trong giai đoạn hiện nay" của PGS.TS Bui Xuan Dac. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cửu nói trên đều đề cập đến bộ máy chính quyền địa phương trong điều kiện bộ máy chỉnh quyền địa phương được tổ chức bao gằm HĐND và UBND. Tính đến thời diểm hiện nay, có thể kế đến Tuận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Thị Thủy về "A4ô hình tô chúc chính quyền huyện khi không còn lội đồng nhân dân". Ngoài ra, chưa có thêm các công trình nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu về mô hình chính quyền địa phương trong điều kiện không tổ chức HĐND dược công bố rộng rãi.

Các dễ tài nghiên cứu chỉ tập trung ở các bài viết, các bài luận ngắn được đăng trên báo, tạp chí như: "Cơ sở ÿÿ luận và thực tiễn của việc không lỗ chức Hội đồng nhân đân ở huyện, quận và phường" của POS.T§ Bài Xuân Đức (Tạp chí Nghiên cứu lap pháp số 14 (130) tháng 09/2008), "Cơ sở Íÿ luận và thực tiên thực hiện không tô chức Hội đồng nhân dân lmuện, quận, phường" của TS. Văn TU Thu (Tạp chi Cộng sản số 817 (tháng 11/2010), "Thực hiện thí diễm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quân, phường: Một số vần đề lý luận và thực tiễn" của 10 MO DAU 1. Tính cắp thiết của dé tai Hơn 65 năm qua, hệ thống các cơ quan nhả nước ở nước ta không, ngừng dược cũng có, dỗi mới tổ chức và hoạt động nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dưới sự lãnh dạo của Đăng, bộ máy nhà nước Lừ Trung ương dễn dịa phương dã nhiều lần được sắp xếp, tổ chức lại theo hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp.

quyền xã hội chủ nghĩa (XHƠN) của dan, do dân va vi dan. Mặc đủ đã đạt được nhiều kết quá lich cực trong tiến trình cải cách, nhưng nhin chung, hộ máy nhà nước vẫn cản nhiều tầng nã , lính thống nhất của hệ thống cơ quan hảnh chính nhà nước chưa cao; hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhả nước cỏn có mặt hạn chế. Vì vậy, tiếp tục đối mới, cải cách. để hoàn thiện bô may nhà nước đã trở thành một yêu cầu tật yếu của thực tiễn.

Việc cải cách bộ máy không chỉ dừng lại ở các cơ quan nhà nước Trung ương, mà cần đổi mới tổ chức và hoạt động của chỉnh quyền địa phương các cấp nhằm dâm bảo tính thống nhất, thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước, xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương, trong hệ thẳng cơ quan nhà nước Bộ máy chỉnh quyền dịa phương ở nước ta bao gồm Hội dỗng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). KẾ từ khi hình thành đến nay, TIĐND các cấp về cơ bản đã phát huy vai trò của mình, làm tốt chức năng theo quy định của pháp luậU đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những năm gân đây, củng với sự đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động, HDND các cấp đã có nhiều chuyển biển trong thực hiện nhiệm vụ công tác, giảm bớt tính hình thức. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được, HĐND huyện, Vệ tên gọi và chức danh 69 Về cách thành lập Ủy ban nhân dân phường 70 Về nhiệm vụ, quyền hạn 74 Về phương thức hoạt động, 76 Chế độ độ hoạt động 76 Tăng cường sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân phường, Mặt 77 trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể ở phường Nang cao nang lực chuyên môn, linh thần trách nhiệm của đội 79 ngũ cán bộ công chức phường KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 Vệ tên gọi và chức danh 69 Về cách thành lập Ủy ban nhân dân phường 70 Về nhiệm vụ, quyền hạn 74 Về phương thức hoạt động, 76 Chế độ độ hoạt động 76 Tăng cường sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân phường, Mặt 77 trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể ở phường Nang cao nang lực chuyên môn, linh thần trách nhiệm của đội 79 ngũ cán bộ công chức phường KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 Với tỉnh thần chủ đông cải cách mô hình tổ chức chính quyền địa phương, Nghi quyết số 17/NQ-TW ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Hội nghị Ban Chap hành 1rung ương Đảng khỏa X về đẩy mạnh cái cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhả nước đã đề ra chủ trương, "Thực hiện thí điểm việc không tô chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

Qua thí điểm sẽ tông kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa adi, 66 sung Hiền pháp về tổ chức chính quyên địa phương cho phù hợp" [16]. Tính đến nay, Đề án thực hiện thí điểm không tỗ chức TEĐND huyện, quận, phường tại 67 huyện, 32 quận, 483 phường của 10 tỉnh, thành phố đã đuợc triển khai trên thực tế hơn 3 năm (bắt đầu từ ngày 25/04/2009). Đề án đã đạt được mục tiêu đề ra, tạo bước đột phá trong cả ch hành chính, góp phan tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, đảm bảo tính thống nhất, xuyên suốt, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý, điều hành của UBND đồng thời phát huy tính chủ động, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính. Tuy nhiên chủ trương này thời gian qua mới được thục hiện tại 10 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước; và quá trình triển khai trên thực tế cũng đã phát sinh những hạn chế, bất cập mới.

Chính vì v y, nghiên cửu hộ máy chỉnh quyền địa phương nói chung và bộ máy chính quyền phường nói riêng trong diễu kiện không tổ chức HĐND là một yêu cầu khách quan, dé ur dé dưa ra những cơ sở lý luận rang, tỉnh thuyết phục cao về mặt nhận thức và tính khả thị về mặt thực sở cho việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp, các Luật và văn bản liên quan về việc hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng không tổ chức IEĐND huyện, quận, phường, La mét can bộ của bộ máy chính quyền phường, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "3ô hình chính quyên phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân" với mang muốn sẽ gdp phần lý giải nhiều vẫn để cả về lý luận va thực tiễn nhằm hướng tới một tổ chức hợp lý bộ máy chính quyền phường trong điểu kiên không t6 chức HĐND phường cũng như trong quá trình xây dựng và hoàn thiên Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay, đã có nhiều để tài nghiên cứu, các bài viết về tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương ở nước la. Có thể kế đến như: "fô chức bộ máy và xây dựng chính quyên cấp xã" do 'LS. Nguyễn Dặng Dinh Lục chủ biên, được Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành tháng 03 năm 2007; "Chinh quyền địa phương ở Việt Nam: quá trình hình thành, thạy đổi và vấn đề đôi mới hiện nay" của PGS.TS Trương Đắc Linh; "Đỗi mới, hoàn thiện bộ máp nhà nước trong giai đoạn hiện nay" của PGS.TS Bui Xuan Dac.

Tuy nhiên, các đề tài nghiên cửu nói trên đều đề cập đến bộ máy chính quyền địa phương trong điều kiện bộ máy chỉnh quyền địa phương được tổ chức bao gằm HĐND và UBND. Tính đến thời diểm hiện nay, có thể kế đến Tuận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Thị Thủy về "A4ô hình tô chúc chính quyền huyện khi không còn lội đồng nhân dân". Ngoài ra, chưa có thêm các công trình nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu về mô hình chính quyền địa phương trong điều kiện không tổ chức HĐND dược công bố rộng rãi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ