Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đặng Huy Ngân với đề tài "Xây dựng mô hình cảnh báo nguy cơ vỡ nợ đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam", chuyên ngành Kinh tế học (Toán kinh tế), mã số 62.01, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Quang Dong (năm 2018).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đối với nền kinh tế quốc gia, nơi được xem là hệ thống huyết mạch tài chính. Rủi ro vỡ nợ ngân hàng có tính chất lan truyền, tạo ra hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền và chi phí khắc phục tổn thất thường vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp thông thường. Sau các giai đoạn phát triển nóng (1991-1996 và 2006-2010), hệ thống NHTMCP Việt Nam bộc lộ nhiều điểm yếu nghiêm trọng; đến cuối năm 2011, hàng loạt ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn tới sự ra đời của Đề án Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI). Để tái cơ cấu đạt hiệu quả, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải nhận diện, phân loại chính xác các ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ cao.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tiễn học thuật: các nghiên cứu cảnh báo vỡ nợ trên thế giới rất đa dạng nhưng chưa có mô hình nào đạt độ ưu việt tuyệt đối trong mọi bối cảnh. Tại Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét số liệu cắt ngang trong một năm duy nhất, chưa theo dõi biến động tài chính của các ngân hàng qua một chuỗi thời gian liên tục; chưa kiểm chứng đồng thời ảnh hưởng của các nhân tố vi mô nội tại kết hợp biến số kinh tế vĩ mô; chưa lượng hóa được tính đặc thù riêng biệt của từng tổ chức tín dụng; đồng thời chưa có công trình nào kết hợp mô hình hồi quy Logit dữ liệu mảng tác động cố định với các phương pháp học máy phi tham số như mạng nơron nhân tạo và cây quyết định.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:

  • Xây dựng và lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong việc đánh giá nguy cơ vỡ nợ của các NHTMCP.
  • Xây dựng mô hình thực nghiệm cảnh báo nguy cơ vỡ nợ của các NHTMCP Việt Nam.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế nguy cơ vỡ nợ của các NHTMCP Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:

  1. Trong điều kiện của Việt Nam, những nhân tố nào có thể đặc trưng cho khả năng vỡ nợ của ngân hàng; các nhân tố, các chỉ tiêu nào ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào tới nguy cơ vỡ nợ của các NHTMCP Việt Nam?
  2. Các ngân hàng có các đặc thù riêng ảnh hưởng đến khả năng vỡ nợ, sự khác biệt này giữa các ngân hàng được xác định như thế nào?
  3. Phương pháp, mô hình nào nên đề xuất áp dụng cho các NHTMCP Việt Nam?
  4. Hàm ý về chính sách rút ra từ mô hình?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguy cơ vỡ nợ và mô hình xác định nguy cơ vỡ nợ của các NHTMCP Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát 35 NHTMCP Việt Nam (bao gồm cả các ngân hàng do Nhà nước nắm cổ phần chi phối gồm BIDV, MHB, Vietcombank, Vietinbank). Khoảng thời gian nghiên cứu thực nghiệm số liệu mảng từ năm 2010 đến năm 2015 (thực trạng hoạt động được khảo sát từ năm 2009 đến năm 2015).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu về cảnh báo vỡ nợ doanh nghiệp và ngân hàng trên thế giới qua hai nhánh tiếp cận chính:

Nhóm mô hình thống kê tham số:

  • Phân tích phân biệt đơn biến (UDA): Khởi nguồn từ công trình của Vụ nghiên cứu chính sách và thương mại Mỹ (1930) khảo sát 24 nhân tố của 29 công ty; tiếp nối qua các nghiên cứu của FitzPatrick (1932, 1934), Smith và Winakor (1935), Merwin (1942). Nổi bật là nghiên cứu của Beaver (1966) trên mẫu 79 công ty vỡ nợ và 79 công ty đối chứng thuộc 38 ngành, kiểm định 30 chỉ số thuộc 6 nhóm tài chính và xác lập các biến dự báo tốt nhất gồm luồng tiền mặt/tổng nợ (độ chính xác 92% trước 1 năm vỡ nợ), thu nhập ròng/doanh thu (91%), thu nhập ròng/tổng tài sản, tổng nợ/tổng tài sản và vốn lưu động/tổng tài sản (90%).
  • Phân tích phân biệt đa biến (MDA): Altman (1968) xây dựng hàm Z-score với 5 chỉ số tài chính ($X_1$: Vốn lưu động/tổng tài sản, $X_2$: Lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản, $X_3$: EBIT/tổng tài sản, $X_4$: Giá trị thị trường vốn chủ sở hữu/giá trị sổ sách tổng nợ, $X_5$: Doanh thu/tổng tài sản), xác lập các ngưỡng 1.81 và 2.99; tiếp đó Altman (1995) hiệu chỉnh mô hình $Z''$ gồm 4 biến dành cho doanh nghiệp dịch vụ; Altman (2003) xây dựng chỉ số $Z''$ điều chỉnh liên kết xếp hạng tín nhiệm của S&P. Hướng nghiên cứu này được tiếp nối bởi Deakin (1972), Blum (1974), Altman, Haldeman và Narayanan (1977), Norton và Smith (1979), Karel và Prakash (1987), Balcaen và Ooghe (2006), Ling Zhang và cộng sự (2001) với mô hình $Z_{\text{China}}$.
  • Mô hình xác suất điều kiện Logit (LA) và Probit (PA): Ohlson (1980) sử dụng mô hình Logit thay thế MDA với mẫu 105 công ty vỡ nợ và 2.000 công ty không vỡ nợ giai đoạn 1970-1976 thông qua 9 biến tài chính. Martin (1977) ứng dụng Logit dự báo vỡ nợ ngân hàng Mỹ giai đoạn 1970-1976 với 25 chỉ tiêu CAMELS; West (1985) kết hợp Logit và phân tích nhân tố trên 1.900 ngân hàng; Isabelle Distinguin và Amine Tarazi (2008) ứng dụng Logit dữ liệu mảng trên 64 ngân hàng Đông Nam Á giai đoạn 1999-2004 dự báo thay đổi mức xếp hạng tín nhiệm của Fitch, Moody's và Standard & Poor's; Duclaux và Soupmo Badjio (2009) nghiên cứu hệ thống ngân hàng thuộc 6 nước miền Trung châu Phi.

Nhóm mô hình phi tham số và kỹ thuật thông minh:

  • Mạng nơron nhân tạo (ANN): Odom và Sharda (1990) ứng dụng ANN 3 lớp với 5 nút ẩn trên mẫu 65 công ty vỡ nợ và 64 công ty không vỡ nợ, đạt độ chính xác 100% trên mẫu kiểm tra. Các tác giả Hawley, Johnson và Raina (1990), Boritz và Kennedy (1995), Alam và cộng sự (2000), Celik và Karatepe (2007) mở rộng phương pháp này. Tam và Kiang (1992) so sánh ANN với MDA, Logit và cây quyết định ID3 trên 118 ngân hàng tại Texas. Salchenberger, Cinar và Lash (1992), Ravi và Pramodh (2008) ứng dụng ANN dự báo vỡ nợ cho ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha đạt độ chính xác từ 96,6% đến 100%.
  • Cây quyết định (DT) và mô hình nhận dạng đặc điểm (TR): Marais, Patell và Wolfson (1984), Frydman, Altman và Kao (1985), Li, Sun và Wu (2010); Kolari và cộng sự (2002) so sánh Logit và TR trên các ngân hàng Mỹ; Lanine và Vander Vennet (2006) áp dụng Logit và TR dự báo vỡ nợ ngân hàng thương mại Nga. Ngoài ra, hướng tiếp cận định giá quyền chọn Merton-Black-Scholes (1974) và mô hình khoảng cách tới vỡ nợ Moody's-KMV (1993) được phát triển qua các công trình của Wilcox (1973), Scott (1981), Varma và Raghunathan (2000), Hillegeist và cộng sự (2004).

Về phía các nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Công ty chứng khoán Tân Việt áp dụng Z-score nguyên bản của Altman; Đinh Thế Hiển hiệu chỉnh các hệ số của hàm $Z''$ 4 biến nhưng chỉ thử nghiệm trên 2 doanh nghiệp (Công ty Dầu Tường An và Công ty Văn hóa phẩm Phương Nam).
  • Nguyễn Trọng Hòa (2009) kết hợp MDA và Logit cho 268 doanh nghiệp niêm yết năm 2007 với 37 chỉ tiêu tài chính.
  • Nguyễn Quang Dong (2009) áp dụng phân tích phân biệt cho 37 ngân hàng Việt Nam dựa trên kết luận thanh tra năm 2008, thu được hàm $Z = -1{,}327 X_3 - 0{,}076 X_{20}$ ($X_3$: lợi nhuận ròng/doanh thu chính; $X_{20}$: khả năng trả lãi) với độ chính xác 90,4%.
  • Nguyễn Thành Cường và Phạm Thế Anh (2010) đánh giá 11 doanh nghiệp thủy sản; Phan Hồng Mai (2012) khảo sát doanh nghiệp xây dựng; Nguyễn Việt Hùng và Hà Quỳnh Hoa (2012) nghiên cứu khủng hoảng tiền tệ; Nguyễn Thị Lương (2014) áp dụng Merton-KMV cho 380 doanh nghiệp niêm yết; Vinh (2015) dùng mô hình hồi quy GMM đánh giá các yếu tố tác động đến nợ xấu ngân hàng.
Tác giả / Năm Phương pháp tiếp cận Mẫu nghiên cứu Kết quả chính
Beaver (1966) UDA (30 chỉ số) 79 công ty vỡ nợ, 79 công ty không vỡ nợ Lựa chọn 6 chỉ số; biến luồng tiền/tổng nợ đạt độ chính xác 92%
Altman (1968) MDA (22 biến rút về 5 biến) 66 công ty (33 vỡ nợ, 33 không vỡ nợ) Thiết lập hàm Z-score; độ chính xác 95% trong mẫu, 79% ngoài mẫu
Ohlson (1980) Hồi quy Logit (9 biến) 105 công ty vỡ nợ, 2.000 công ty bình thường Độ chính xác dự báo cao, sai lầm loại I và loại II là 17,4% và 12,4%
Tam & Kiang (1992) ANN, MDA, LA, Cây quyết định 118 ngân hàng tại bang Texas, Hoa Kỳ Mạng nơron ANN cho độ chính xác phân loại vượt trội so với MDA, LA, ID3
Nguyễn Quang Dong (2009) Phân tích phân biệt MDA 37 ngân hàng Việt Nam năm 2008 Xác định 2 biến đại diện ($X_3, X_{20}$); độ chính xác phân loại 90,4%

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết bao gồm: theo dõi dữ liệu mảng qua chuỗi thời gian 5 năm thay vì 1 năm đơn lẻ; kiểm định đồng thời các biến vi mô và biến vĩ mô; lượng hóa tính đặc thù riêng biệt của từng ngân hàng bằng hệ số chặn riêng; và ứng dụng so sánh đồng thời mô hình Logit dữ liệu mảng tác động cố định với mạng nơron ANN và cây quyết định DT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết về vỡ nợ ngân hàng thương mại. Về mặt kỹ thuật, vỡ nợ ngân hàng là tình trạng một ngân hàng không thể đáp ứng trách nhiệm thanh toán cho người gửi tiền và không duy trì đủ tỷ lệ dự trữ theo luật định (Mishkin, 1999). Theo Basel II (2008), vỡ nợ xảy ra khi chủ thể không trả được nợ khi đến hạn, quá hạn trên 90 ngày hoặc giá trị tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ nợ. Về mặt pháp lý tại Việt Nam, Luật Phá sản số 51/2014/QH13 và Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (Điều 146 và Điều 155) quy định việc xử lý kiểm soát đặc biệt và trình tự phá sản tổ chức tín dụng sau khi các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán không mang lại kết quả.

Tiêu chí xác định biến phụ thuộc nhị phân ($Y$) của luận án: Do thực tiễn hoạt động ngân hàng Việt Nam chưa từng tuyên bố phá sản chính thức mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế kiểm soát đặc biệt, cơ cấu lại hoặc chỉ định sáp nhập, tác giả xây dựng tiêu chuẩn nhận diện nguy cơ vỡ nợ dựa trên sự kết hợp giữa chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động:

  • Tiêu chí nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu ($NPL$) từ 3% trở lên (căn cứ theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP và Thông tư 19/2013/TT-NHNN, tổ chức tín dụng có nợ xấu từ 3% trở lên bắt buộc phải bán nợ cho VAMC hoặc chịu sự thanh tra, giám sát chặt chẽ).
  • Tiêu chí hiệu quả kỹ thuật: Ngân hàng thuộc nhóm C (nhóm hiệu quả trung bình hoặc yếu kém) thông qua phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA). Quy tắc xác định biến mục tiêu: $Y = 1$ (ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ cao) khi đồng thời thỏa mãn tỷ lệ nợ xấu $NPL \ge 3%$ và xếp vào nhóm hiệu quả C; ngược lại $Y = 0$ (ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thấp).

Khung chỉ tiêu giải thích (biến độc lập) được phân thành hai nhóm:

  • Nhóm nhân tố vi mô: Xây dựng theo hệ thống CAMELS, gồm các chỉ tiêu an toàn vốn C (hệ số CAR theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN tối thiểu 9%, tỷ lệ đòn bẩy $L$, hệ số tự tài trợ); chất lượng tài sản A (nợ xấu phân theo 5 nhóm nợ của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ nợ khó đòi/(vốn chủ sở hữu + dự phòng)); hiệu quả quản lý M; khả năng sinh lời E (ROA, ROE, biên lãi thuần); khả năng thanh khoản L (tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động LDR).
  • Nhóm nhân tố vĩ mô: Tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát (CPI), diễn biến lãi suất điều hành, biên độ tỷ giá VND/USD và nghiệp vụ thị trường mở OMO.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA): Đo lường hiệu quả kỹ thuật (TE) với tập hợp các biến đầu vào và đầu ra của 35 NHTMCP trong giai đoạn 2010-2015 để chia thành 3 nhóm hiệu quả: nhóm A (tốt), nhóm B (khá), nhóm C (trung bình, yếu kém).
  • Mô hình hồi quy Logit với dữ liệu mảng (Panel Logit): Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE). Tác giả lựa chọn mô hình Logit tác động cố định nhằm ước lượng hệ số chặn riêng biệt cho từng ngân hàng, phản ánh tính đặc thù cá thể.
  • Mạng nơron nhân tạo (ANN): Thiết lập mạng truyền thẳng nhiều lớp với thuật toán lan truyền ngược, cấu trúc 10 nút ẩn để học và phân loại phi tuyến.
  • Mô hình Cây quyết định (DT): Thiết lập các điểm phân nhánh theo bộ quy tắc nếu - thì (if-then) nhằm chia tách không gian mẫu dựa trên các thuộc tính tài chính có khả năng phân biệt cao nhất.
  • Phương pháp Moody's-KMV: Đối chiếu kết quả xác suất vỡ nợ tính toán được với thang đo xác suất vỡ nợ của mô hình KMV để phân loại và xếp hạng tín dụng cho các ngân hàng.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã kiểm toán của 35 NHTMCP giai đoạn 2010-2015 và các báo cáo chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tổng số 114 quan sát thực nghiệm). Phân tích định lượng được thực hiện trên phần mềm thống kê STATA.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về vỡ nợ ngân hàng

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm về vỡ nợ, vỡ nợ ngân hàng thương mại, đồng thời điểm lại các cuộc khủng hoảng ngân hàng điển hình trên thế giới (Châu Mỹ La-tinh 1980-1983, Hoa Kỳ 1988-1992, Hoa Kỳ 2007-2009, Bắc Âu 1991, Châu Á 1997 theo tổng hợp từ Amri và Kocher, 2012). Tác giả phân tích lịch sử phát triển của các công cụ dự báo từ đơn biến (UDA), đa biến (MDA), Logit, Probit cho đến mạng nơron, cây quyết định, mô hình nhận dạng đặc điểm (TR) và mô hình định giá quyền chọn Merton-KMV. Chương 1 chỉ ra các tiêu chí xác định vỡ nợ thường dùng trong tài liệu quốc tế và điểm lại các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, từ đó xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu nền tảng mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận về vỡ nợ ngân hàng thương mại

Tác giả đi sâu phân tích cơ chế hình thành rủi ro vỡ nợ của ngân hàng thương mại dưới tác động đồng thời của các cú sốc vĩ mô (sự suy giảm tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặt, áp lực cạnh tranh) và sự suy yếu vi mô nội tại (thâm hụt vốn tự có, rủi ro thanh khoản, nợ xấu gia tăng làm xói mòn lợi nhuận và vốn chủ sở hữu theo Berger và DeYoung, 1997). Tác giả luận chứng việc lựa chọn tiêu chí nguy cơ vỡ nợ kết hợp giữa tỷ lệ nợ xấu $NPL \ge 3%$ và nhóm hiệu quả C từ mô hình DEA. Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho các mô hình định lượng gồm DEA, Logit dữ liệu mảng, mạng nơron nhân tạo và cây quyết định sẽ triển khai thực nghiệm.

Chương 3: Thực trạng hoạt động, nguy cơ vỡ nợ của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2009-2015

Chương 3 trình bày bức tranh toàn cảnh về kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2009-2015: tăng trưởng GDP biến động, lạm phát tăng cao năm 2011 trước khi hạ nhiệt, các đợt điều chỉnh lãi suất điều hành và biên độ tỷ giá của NHNN. Về ngành ngân hàng, giai đoạn này chứng kiến sự sụt giảm số lượng NHTM do sáp nhập, hợp nhất (từ 42 NHTMCP xuống còn 35 NHTMCP); tỷ lệ an toàn vốn CAR của các ngân hàng Việt Nam bình quân đạt chuẩn quy định nhưng thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN; tỷ lệ nợ xấu bùng nổ vượt ngưỡng kiểm soát vào cuối năm 2011, dẫn tới nguy cơ mất thanh khoản hệ thống. Tác giả phân tích các ngân hàng yếu kém điển hình như Habubank, Westernbank, SCB, Oceanbank, GP Bank, MHB và các NHTMCP có vốn nhà nước chi phối (Vietcombank, BIDV, Vietinbank) để làm rõ thực trạng phân hóa rủi ro tín dụng.

Chương 4: Xây dựng mô hình cảnh báo nguy cơ vỡ nợ các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đây là chương trọng tâm thực nghiệm của luận án với các kết quả cụ thể:

  • Phân tích DEA: Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE) giai đoạn 2010-2015, xếp loại các ngân hàng vào các nhóm hiệu quả A, B, C làm căn cứ gán nhãn biến phụ thuộc $Y$.
  • Hồi quy Logit dữ liệu mảng: Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập. Kiểm định Hausman được thực hiện và kết luận lựa chọn mô hình Logit tác động cố định (FE). Kết quả hồi quy chỉ ra các biến số tài chính và vĩ mô có ý nghĩa thống kê giải thích nguy cơ vỡ nợ; mô hình ước lượng thành công hệ số chặn riêng cho từng ngân hàng, phản ánh tính đặc thù cá thể. Hiệu suất phân loại của mô hình Logit đạt tỷ lệ dự báo chính xác cao trên mẫu nghiên cứu.
  • Mạng nơron nhân tạo (ANN): Huấn luyện mạng nơron 3 lớp với 10 nút ẩn; kết quả kiểm tra cho thấy mạng ANN có khả năng học quan hệ phi tuyến phức tạp và đạt độ chính xác phân loại ấn tượng.
  • Mô hình Cây quyết định (DT): Trích xuất bộ quy tắc phân loại rủi ro thông qua các ngưỡng cắt cụ thể của các chỉ tiêu chất lượng tài sản, thanh khoản và an toàn vốn, cung cấp sơ đồ phân nhánh trực quan cho việc nhận diện rủi ro.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách

Tác giả tính toán tác động biên của từng biến giải thích đến xác suất vỡ nợ $p$. So sánh hiệu suất dự báo của cả 3 mô hình (Logit, ANN, Cây quyết định) trên bộ dữ liệu 114 quan sát, chỉ ra ưu điểm và hạn chế riêng của từng phương pháp. Luận án sử dụng xác suất vỡ nợ ước lượng được để phân nhóm, xếp hạng tín dụng cho các NHTMCP Việt Nam theo tiêu chuẩn tương thích với mô hình Moody's-KMV. Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp: giải pháp chính sách vĩ mô đối với Ngân hàng Nhà nước (hoàn thiện khung giám sát an toàn vĩ mô, nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm soát tăng trưởng tín dụng và xử lý nợ xấu qua VAMC) và giải pháp quản trị vi mô đối với các NHTMCP (cơ cấu lại danh mục tài sản, kiểm soát rủi ro thanh khoản, tăng cường bộ đệm vốn tự có và minh bạch hóa thông tin tài chính).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:

  • Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về cảnh báo sớm rủi ro đổ vỡ ngân hàng trong điều kiện đặc thù của một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam – nơi chưa có tiền lệ phá sản ngân hàng thương mại. Tác giả đề xuất tiêu chí khoa học xác định nguy cơ vỡ nợ thông qua việc kết hợp giữa chỉ tiêu rủi ro tín dụng thực tế (tỷ lệ nợ xấu $NPL \ge 3%$) và chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật tổng hợp (nhóm C từ mô hình DEA).
  • Lượng hóa được tính đặc thù riêng biệt của từng ngân hàng thương mại cổ phần ảnh hưởng tới nguy cơ vỡ nợ thông qua việc ước lượng hệ số chặn riêng trong mô hình hồi quy Logit dữ liệu mảng tác động cố định (FE).
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu định lượng bằng cách tích hợp và so sánh hiệu suất giữa phương pháp thống kê mảng (Panel Logit) với các công cụ học máy phi tham số (mạng nơron nhân tạo ANN 10 nút ẩn và mô hình cây quyết định DT).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng:

  • Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm toàn diện bao gồm cả các chỉ số tài chính vi mô nội tại của ngân hàng và các chỉ số kinh tế vĩ mô.
  • Cung cấp mô hình thực nghiệm có khả năng dự báo và tính toán xác suất vỡ nợ cho từng NHTMCP Việt Nam, làm cơ sở xây dựng bảng xếp hạng tín dụng tương thích với chuẩn mực quốc tế Moody's-KMV.
  • Đề xuất hệ thống các khuyến nghị và hàm ý chính sách khả thi giúp cơ quan quản lý tiền tệ (NHNN) sớm phát hiện các tổ chức tín dụng yếu kém để can thiệp kịp thời, đồng thời hỗ trợ các ngân hàng thương mại chủ động phòng ngừa rủi ro mất thanh toán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi dữ liệu thực nghiệm giới hạn trong giai đoạn 2010-2015 với tổng số 114 quan sát do nhiều ngân hàng thực hiện sáp nhập, hợp nhất hoặc chuyển giao bắt buộc làm gián đoạn chuỗi báo cáo tài chính kiểm toán công khai.
  • Luận án tập trung chủ yếu vào các dữ liệu định lượng từ báo cáo tài chính và các chỉ số kinh tế vĩ mô; chưa lượng hóa được các yếu tố phi tài chính phức tạp như phẩm chất ban quản trị, mức độ tập trung sở hữu chéo và các giao dịch với bên liên quan do hạn chế về tính minh bạch của thông tin thị trường.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng chuỗi số liệu thời gian sau năm 2015 để kiểm chứng tính bền vững của các mô hình dự báo trong bối cảnh các ngân hàng áp dụng chuẩn mực an toàn vốn mới.
  • Bổ sung các biến kiểm soát về cơ cấu quản trị, sở hữu nhà nước, mức độ đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi và các chỉ báo thị trường chứng khoán đối với các ngân hàng đã niêm yết.
  • Thử nghiệm kết hợp thêm các thuật toán học máy khác nhằm nâng cao khả năng phân loại trên các tập dữ liệu mảng không cân bằng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế học, Toán kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu mẫu mực về việc ứng dụng kết hợp giữa phương pháp phi tham số (DEA), kinh tế lượng dữ liệu mảng (Panel Logit tác động cố định) và các mô hình học máy (ANN, DT) trong phân tích tài chính ngân hàng. Các chương 2 và 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp về mặt kỹ thuật xử lý dữ liệu và thiết lập mô hình.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, VAMC): Chương 4 và Chương 5 cung cấp khung công cụ định lượng hỗ trợ nhận diện từ xa các ngân hàng yếu kém, đo lường xác suất đổ vỡ và phân loại mức độ rủi ro tín dụng phục vụ công tác giám sát an toàn vĩ mô và vi mô.
  • Đối với ban điều hành và khối quản trị rủi ro tại các NHTMCP: Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo ở Chương 2 và bộ quy tắc phân nhánh của cây quyết định ở Chương 4 hỗ trợ các ngân hàng tự đánh giá sức khỏe tài chính, chủ động kiểm soát quy mô nợ xấu và duy trì hệ số an toàn vốn hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao luận án không sử dụng tiêu chí phá sản thực tế mà phải xây dựng biến nguy cơ vỡ nợ kết hợp giữa tỷ lệ nợ xấu và phương pháp DEA? Thực tiễn ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn nghiên cứu chưa từng ghi nhận trường hợp tòa án tuyên bố phá sản chính thức. Khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước áp dụng các biện pháp tái cơ cấu, kiểm soát đặc biệt hoặc sáp nhập bắt buộc. Do đó, luận án xác định nguy cơ vỡ nợ tiềm tàng thông qua hai dấu hiệu: tỷ lệ nợ xấu $NPL \ge 3%$ (ngưỡng mất an toàn bắt buộc phải bán nợ cho VAMC theo quy định của NHNN) và hiệu quả hoạt động thuộc nhóm C theo DEA (thiếu hụt năng lực tạo lợi nhuận để bù đắp rủi ro tín dụng).

  2. Luận án lượng hóa tính đặc thù riêng biệt của từng ngân hàng bằng kỹ thuật nào? Luận án sử dụng mô hình hồi quy Logit với dữ liệu mảng tác động cố định (FE) sau khi thực hiện kiểm định Hausman. Mô hình này ước lượng các hệ số chặn riêng biệt cho từng ngân hàng trong tổng số 35 NHTMCP khảo sát, qua đó phản ánh các yếu tố đặc thù cố định không quan sát được của từng tổ chức tín dụng ảnh hưởng tới xác suất vỡ nợ.

  3. Ba mô hình cảnh báo được xây dựng trong luận án có đặc điểm gì khác nhau? Luận án xây dựng và so sánh 3 mô hình trên cùng tập dữ liệu 114 quan sát: mô hình Logit dữ liệu mảng (dựa trên phân phối xác suất logistic và cung cấp hệ số giải thích tác động biên); mô hình Mạng nơron nhân tạo ANN (mạng 3 lớp với 10 nút ẩn có khả năng học các mối quan hệ phi tuyến phức tạp); và mô hình Cây quyết định DT (phân chia không gian dữ liệu bằng các quy tắc nếu - thì trực quan, dễ áp dụng trong thực tiễn thanh tra).

  4. Luận án ứng dụng kết quả dự báo để xếp hạng tín dụng các ngân hàng như thế nào? Sau khi ước lượng xác suất vỡ nợ $p$ từ các mô hình thực nghiệm, tác giả tiến hành đối chiếu giá trị xác suất này với bảng phân loại mức độ rủi ro và các mức xếp hạng tín dụng chuẩn của mô hình Moody's-KMV, từ đó chia các NHTMCP Việt Nam thành các nhóm hạng tín dụng tương ứng với mức độ an toàn tài chính.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Huy Ngân đã giải quyết thành công bài toán nhận diện và cảnh báo sớm nguy cơ đổ vỡ đối với hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2010-2015. Bằng việc kết hợp sáng tạo giữa tiêu chuẩn quản lý nợ xấu với phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA, tác giả đã lượng hóa được biến phụ thuộc nguy cơ vỡ nợ phù hợp với đặc thù thể chế của Việt Nam. Công trình đã thiết lập và so sánh hiệu quả giữa mô hình Logit dữ liệu mảng tác động cố định với các thuật toán thông minh gồm mạng nơron nhân tạo và cây quyết định, lượng hóa được tính đặc thù cá thể của từng ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn tin cậy cho Ngân hàng Nhà nước trong công tác thanh tra, giám sát hệ thống cũng như hỗ trợ các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng.