Chương 1, luận án trình bày khái niệm vỡ nợ, vỡ nợ ngân hàng thương mại. Qua việc tổng quan các nghiên cứu vỡ nợ, vỡ nợ ngân hàng tiêu biểu trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả cũng chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và đề ra mục tiêu nghiên cứu. Khái niệm vỡ nợ, vỡ nợ ngân hàng thương mại Hiện tượng “phá sản” hay “vỡ nợ” đã có từ lâu nhưng nó được nói đến nhiều trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt với nhau, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả tồn tại và phát triển còn các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính thì vỡ nợ, phá sản.
Sự vỡ nợ của doanh nghiệp dẫn đến sự xung đột lợi ích của các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế. Việc xác định rõ khái niệm này là cơ sở để Nhà nước, các chủ thể trong nền kinh tế có thể can thiệp một cách có ý thức vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ (1988, tr.790) viết rằng “ phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; vỡ nợ là tình trạng doanh nghiệp, cá nhân lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán tài sản để trang trải công nợ, mà cũng có thể không trang trải được hết”. Trong luận án này tác giả sử dụng thuật ngữ ‘vỡ nợ’.
Theo hiệp ước Basell II (2008), nguy cơ vỡ nợ được xem như sự kiện hoặc sự cố liên quan đến những chủ thể vay, khi ít nhất một trong các khả năng sau đây xảy ra: - Không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến thời hạn hoàn trả hay là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, bao gồm vốn vay và tiền lãi phải trả. - Không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tín dụng khi quá hạn trên 90 ngày. - Giá trị tài sản nhỏ hơn vốn vay. Dưới giác độ pháp lý theo văn bản luật mới nhất, luật phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19/6/2014 quy định: “ Vỡ nợ là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố vỡ nợ”, luật cũng chỉ rõ: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn 5 Luận án tiến sĩ Kinh tế thanh toán”.
Luật phá sản số 51/2014/QH được xem là văn bản pháp lý đầy đủ nhất về phá sản, vỡ nợ doanh nghiệp. Vỡ nợ ngân hàng thương mại Về mặt kỹ thuật, vỡ nợ ngân hàng là một tình trạng trong đó một NH không thể đáp ứng được trách nhiệm thanh toán cho những người gửi tiền và không có đủ khoản tiền dự trữ theo như đòi hỏi phải có (Mishkin, 1999, tr. Do tính chất quan trọng của các TCTD trong đó có ngân hàng đối với nền kinh tế nên việc vỡ nợ của TCTD được quy định riêng ở mục 2, điều 155 của Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ra ngày 16/6/2010 nêu rõ “Sau khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng vỡ nợ thì TCTD đó phải làm đơn yêu cầu toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố vỡ nợ theo quy định của pháp luật về vỡ nợ”. Cũng theo điều 146 chương VIII, luật các TCTD 2010, mục kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, phá sản, giải thể, thanh lý TCTD có nêu: “NHNN xem xét, đặt các TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi TCTD lâm vào một trong các trường hợp sau + Có nguy cơ mất khả năng chi trả.
+ Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán. + Khi số lỗ lũy kế của TCTD lớn hơn 50% giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất. + Hai năm liên tục bị xếp hạng yếu kém theo quy định của NHNN. + Không duy trì được tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 130 của luật Này trong thời gian một năm liên tục”.
Như vậy việc vỡ nợ của các TCTD, các ngân hàng ở Việt Nam được quy định và giám sát rất chặt chẽ. Hậu quả của vỡ nợ ngân hàng Sự vỡ nợ của các NHTM gây ra sự mất vốn của các cổ đông ngân hàng, sự tổn thất cho người gửi tiền (nếu không được chi trả bảo hiểm tiền gửi đầy đủ), nếu qui mô vỡ nợ lớn hơn nó có thể tạo phản ứng đổ vỡ dây chuyền hệ thống NH, kéo theo khủng hoảng tài chính. Hậu quả của nó rất dai dẳng gây ra suy thoái kinh tế và làm kiệt quệ nguồn vốn đầu tư nhất là ở các nước đang phát triển (Lê Khương Ninh, 2015). Ví dụ điển hình là chi phí khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 6 Luận án tiến sĩ Kinh tế 1997 (bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ) lên tới 200 tỷ đô-la Mỹ, trong đó người gửi tiền và Chính phủ gánh chịu.
Trong lịch sử đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ các ngân hàng lớn trên thế giới.1 nêu một số cuộc khủng hoảng ngân hàng điển hình từ năm 1980.1: Một số cuộc khủng hoảng ngân hàng điển hình TT Địa bàn Sự kiện Nguyên nhân 1 Châu Mỹ Hơn 70 ngân hàng bị giải thể hoặc cần Lãi suất giảm và chính La-tinh cứu trợ. Quốc hữu hoá ngân hàng quy sách tiền tệ thắt chặt ở Hoa (1980-1983) mô lớn diễn ra ở Mexico, Uruguay, Kỳ, cùng với sự xấu đi của Chile và Peru. môi trường kinh tế vĩ mô trong nước. Hoa Kỳ 1300 ngân hàng vỡ nợ.
Chi phí Bùng nổ thị trường bất (1988-1992) khắc phục là 180 tỷ đô-la Mỹ (khoảng động sản cùng việc gỡ bỏ 3% GDP). một số quy định đối với lĩnh vực tài chính khiến các TCTD thực hiện các khoản cho vay quá rủi ro. 2 Hoa Kỳ Khủng hoảng tự dẫn đến vấn đề thanh Bùng nổ bong bong nhà (2007-2009) khoản ở hệ thống ngân hàng do nhu đất khiến cho thị trường cầu đối với các loại chứng khoán phái cho vay sụp đổ, làm cho sinh giảm sâu. Các loại tài sản tài nhu cầu đối với các loại chính khó định giá bị mất giá do áp chứng khoán phái sinh dụng các quy định kế toán mới.
3 Phần Lan, Na Chính phủ kiểm soát ba ngân hàng lớn Tự do tài chính dẫn đến Uy và Thụy chiếm đến 31% tổng lượng tiền gửi. bùng nổ cho vay, cùng với Điển (1991) lãi suất tăng ở Đức nên chất lượng các khoản cho vay không thể kiểm soát. 4 Khủng hoảng Khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ. Nợ Sự mở rộng thị trường vốn tài chính Châu xấu tăng đột biến ở Thái Lan, Hàn quốc tế, cùng sự định giá Á (1997) Quốc, Indonesia, Philippines và quá cao đồng nội tệ dẫn Malaysia, dẫn tới nhiều vụ sáp nhập đến việc vay và cho vay các NH.
Nguồn: Amri và Kocher (2012) 7 Luận án tiến sĩ Kinh tế 1. Tổng quan các nghiên cứu vỡ nợ, vỡ nợ ngân hàng trên thế giới Nghiên cứu dự báo vỡ nợ công ty là một chủ đề quan trọng và được quan tâm rộng rãi, đã có nhiều mô hình dự báo vỡ nợ phát triển dựa trên các lý thuyết khác nhau. Dự báo vỡ nợ gắn liền với thuật ngữ cảnh báo sớm được hiểu là hoạt động nhận biết nguy cơ vỡ nợ của một chủ thể trong tương lai từ các chỉ báo trong hiện tại. Cơ sở cho việc dự báo vỡ nợ là việc phân tích mối quan hệ giữa vỡ nợ doanh nghiệp với các chỉ số tài chính được thể hiện trên các báo cáo liên quan đến doanh nghiệp.
Lý luận này đưa ra bởi tác giả Fitzpatrick (1934) và được hoàn thiện trong các nghiên cứu sau đó như của Atlman (1968, 1983, 1993). Tổng quan các mô hình và các nghiên cứu vỡ nợ tiêu biểu Khi nghiên cứu về các mô hình cảnh báo vỡ nợ người ta thường chia ra các loại mô hình: - Các mô hình, phương pháp thống kê chứa tham số: phân tích đơn biến, phân tích phân biệt đa biến, mô hình Logit, Probit, phân tích sống sót,. - Các mô hình phi tham số: mạng nơron nhân tạo, học máy, cây quyết định, mô hình nhận dạng đặc điểm, thuật toán di truyền,.1: Mô tả các mô hình thường được sử dụng trong nghiên cứu cảnh báo vỡ nợ. Dự báo vỡ nợ Mô hình thống kê Các mô hình phi tham số UDA LA, PA MDA Mạng Cây Phân tích Thuật toán Máy hỗ Nơ ron quyết đặc điểm di truyền trợ véc tơ định Hình 1.1: Các mô hình chủ yếu trong nghiên cứu cảnh báo vỡ nợ Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các tài liệu tham khảo Trong đó: UDA- phân tích phân biệt đơn biến; MDA- phân tích phân biệt đa biến; LA- mô hình Logit; PA- mô hình Probit.
8 Luận án tiến sĩ Kinh tế a) Nhóm mô hình thống kê: phân tích đơn biến, phân tích phân biệt đa biến, mô hình Logit, Probit. Nghiên cứu sử dụng phân tích phân biệt đơn biến: Nội dung chính của phân tích đơn biến trong nghiên cứu cảnh báo vỡ nợ là xem xét các nhân tố đơn lẻ và so sánh các nhân tố giữa hai nhóm công ty vỡ nợ và nhóm công ty không vỡ nợ, nếu các nhân tố tài chính cho thấy các dấu hiệu khác nhau giữa hai nhóm vỡ nợ và không vỡ nợ thì chúng được sử dụng như các biến dự báo. Vụ nghiên cứu chính sách và thương mại Mỹ (1930) công bố tập san các kết quả nghiên cứu trong cuốn ‘ Một phân tích, kiểm tra các công ty công nghiệp vỡ nợ ’. Nghiên cứu đã phân tích 24 nhân tố của 29 công ty để xác định những tính chất chung của nhóm công ty bị vỡ nợ.
Trung bình của các nhân tố được xác định dựa trên số liệu các nhân tố của 29 công ty. Các nhân tố của mỗi công ty được so sánh với trung bình của các nhân tố tương ứng để chỉ ra tính chất hoặc xu hướng của công ty. Các nghiên cứu tìm ra 8 nhân tố để xem xét như các chỉ báo tốt về tình trạng suy yếu của một công ty.