Luận văn Thạc sĩ: Tối ưu thông số, kết cấu máy thu hoạch nghêu - Mai Văn Hoạt

Nghiên cứu tối ưu thông số, kết cấu liên hợp máy thu hoạch nghêu nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí. Luận văn cung cấp giải pháp cơ giới hóa nghề nuôi nghêu.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Cơ Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng luận về tình hình chăn nuôi và thu hoạch nghêu ở nước ta

1.2. Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở trong nước và ngoài nước

1.2.1. Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở ngoài nước

1.2.2. Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở trong nước

1.3. Cơ sở lý thuyết tính toán thành lập liên hợp máy

1.3.1. Tính chất cơ lý của đất

1.3.1.1. Khả năng chống nén của đất
1.3.1.2. Khả năng c...

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Máy Thu Hoạch Nghêu Nghiên Cứu Tổng Quan

Nghêu, hay ngao, là một loại hải sản có giá trị kinh tế cao, dễ nuôi và không tốn nhiều công chăm sóc. Nghề nuôi nghêu hiện nay đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn, làm hồi sinh nhiều vùng đất ven biển, tạo việc làm và thu nhập ổn định. Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi nghêu, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thể hiện rõ điều này. Một trong những công việc tốn nhiều sức lao động nhất trong quá trình nuôi nghêu là khâu thu hoạch. Thu hoạch nghêu ở nước ta còn thủ công nên năng suất và chất lượng thấp. Việc cơ giới hóa khâu thu hoạch nghêu, cụ thể là thiết kế, chế tạo máy thu hoạch nghêu đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật - công nghệ, thay thế cho công việc thu hoạch thủ công hiện nay là một việc làm cấp thiết, nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, thỏa mãn tối đa tính thời vụ cũng như các yêu cầu ngày càng cao cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

1.1. Tiềm năng phát triển nghề nuôi nghêu và cơ giới hóa

Việt Nam có bờ biển dài và tiềm năng rất lớn về phát triển nuôi trồng thủy hải sản. Nuôi nghêu là một trong những nghề đem lại lợi ích kinh tế lớn. Nghêu có giá trị dinh dưỡng cao và dễ nuôi, không tốn nhiều công chăm sóc. Nuôi nghêu không tốn thức ăn vì nghêu là động vật ăn lọc. Thịt nghêu là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thơm ngon được nhiều người ưa thích. Nghêu sinh trưởng rất nhanh, sức sinh sản lớn, sản lượng khai thác hàng năm tương đối cao, phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Nuôi nghêu ở Việt Nam hiện nay đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn, làm hồi sinh nhiều vùng đất ven biển trước đây bị bỏ hoang, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận cư dân nghèo sinh sống ở ven biển, góp phần xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Thu hoạch nghêu là một trong những công việc tốn nhiều sức lao động nhất trong quá trình nuôi nghêu. Việc cơ giới hóa khâu thu hoạch nghêu là một việc làm cấp thiết.

1.2. Hiện trạng thu hoạch nghêu thủ công và nhu cầu cấp thiết

Việc thu hoạch nghêu ở nước ta hiện nay vẫn còn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, đòi hỏi nhiều lao động và thời gian, dẫn đến năng suất và chất lượng không cao. Theo khảo sát, 60 người trong ba giờ chỉ thu hoạch được khoảng 0,8 tấn nghêu. Với diện tích và sản lượng nghêu tăng đều hàng năm, việc cơ giới hóa khâu thu hoạch, đặc biệt là thông qua việc thiết kế và chế tạo máy thu hoạch nghêu hiện đại, là vô cùng cấp thiết. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn giảm chi phí sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu.

II. Thách Thức Trong Thu Hoạch Nghêu Tìm Giải Pháp Tối Ưu

Mặc dù nghề nuôi nghêu mang lại nhiều lợi ích kinh tế, nhưng khâu thu hoạch vẫn còn nhiều thách thức. Các phương pháp thu hoạch thủ công hiện nay tốn nhiều thời gian, công sức và không đảm bảo năng suất cao. Ngoài ra, các phương pháp này cũng có thể gây ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái biển. Do đó, cần có các giải pháp tối ưu để giải quyết các thách thức này, bao gồm việc nghiên cứu và phát triển các loại máy thu hoạch nghêu hiệu quả, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

2.1. Những hạn chế của phương pháp thu hoạch nghêu thủ công

Phương pháp thu hoạch nghêu thủ công hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, bao gồm: Tốn nhiều thời gian và công sức, năng suất thấp, không đảm bảo chất lượng sản phẩm, gây ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái biển, phụ thuộc vào thời tiết và thủy triều. Do đó, cần có các giải pháp tối ưu để giải quyết các hạn chế này.

2.2. Tác động tiêu cực đến môi trường khi thu hoạch nghêu thủ công

Các phương pháp thu hoạch nghêu thủ công có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm: Gây xáo trộn đáy biển, ảnh hưởng đến sinh vật biển khác, làm ô nhiễm nguồn nước, gây mất cân bằng sinh thái. Do đó, việc sử dụng máy thu hoạch nghêu thân thiện với môi trường là một giải pháp cần thiết.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Thông Số Kết Cấu Máy Thu Hoạch

Để tạo ra một LHM thu hoạch nghêu hoàn thiện, cần thực hiện nhiều công đoạn phức tạp khác nhau liên quan đến đối tượng tác động (con nghêu), điều kiện làm việc (nền đất), nguồn động lực (máy kéo) và bộ phận công tác (máy thu hoạch). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sử dụng và kết cấu đến tính năng kinh tế - kỹ thuật của liên hợp máy, nhằm xác định giá trị hợp lý của các thông số, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc hoàn thiện thiết kế chế tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng LHM thu hoạch nghêu.

3.1. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất máy thu hoạch

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của máy thu hoạch nghêu là vô cùng quan trọng để tối ưu hóa thiết kế và vận hành máy. Các yếu tố cần xem xét bao gồm: Loại đất và độ cứng của bãi nghêu, kích thước và mật độ nghêu, tốc độ di chuyển của máy, độ sâu thu hoạch, góc cào, loại lưỡi cào sử dụng, và phương pháp phân loại nghêu.

3.2. Phương pháp xác định thông số kỹ thuật tối ưu cho máy

Để xác định các thông số kỹ thuật tối ưu cho máy thu hoạch nghêu, cần kết hợp cả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Nghiên cứu lý thuyết bao gồm việc xây dựng mô hình toán học mô tả quá trình thu hoạch nghêu và sử dụng các phương pháp tối ưu hóa để tìm ra các thông số tối ưu. Nghiên cứu thực nghiệm bao gồm việc thử nghiệm các loại máy thu hoạch nghêu khác nhau trên các bãi nghêu thực tế để đánh giá hiệu suất và độ bền của máy.

IV. Ứng Dụng Máy Thu Hoạch Nghêu Nâng Cao Hiệu Quả Thực Tế

Việc ứng dụng máy thu hoạch nghêu vào thực tế sản xuất có thể mang lại nhiều lợi ích, bao gồm: Nâng cao năng suất và chất lượng thu hoạch, giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu tác động đến môi trường, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Tuy nhiên, để ứng dụng thành công máy thu hoạch nghêu, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, nhà sản xuất và người sử dụng.

4.1. Lợi ích kinh tế và xã hội từ việc sử dụng máy thu hoạch

Sử dụng máy thu hoạch nghêu mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể: Tăng năng suất thu hoạch, giảm chi phí nhân công, cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người nuôi nghêu, tạo việc làm cho ngành công nghiệp chế tạo máy móc nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Đánh giá hiệu quả của máy thu hoạch nghêu trong thực tế

Để đánh giá hiệu quả của máy thu hoạch nghêu trong thực tế, cần tiến hành các thử nghiệm trên các bãi nghêu khác nhau và so sánh kết quả với phương pháp thu hoạch thủ công. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Năng suất thu hoạch, chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, tác động đến môi trường, độ bền của máy.

V. Kết Luận Tiềm Năng Hướng Phát Triển Máy Thu Hoạch

Việc nghiên cứu và phát triển máy thu hoạch nghêu là một hướng đi đúng đắn và cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững nghề nuôi nghêu ở Việt Nam. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa thiết kế và chức năng của máy, đồng thời phát triển các loại máy phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng nuôi nghêu.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và hướng phát triển tiếp theo

Nghiên cứu đã xác định được một số thông số kỹ thuật và kết cấu tối ưu cho máy thu hoạch nghêu. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa thiết kế và chức năng của máy, đồng thời phát triển các loại máy phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng nuôi nghêu.

5.2. Cơ hội và thách thức trong việc cơ giới hóa thu hoạch nghêu

Cơ hội: Nhu cầu ngày càng tăng về cơ giới hóa nông nghiệp, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ. Thách thức: Chi phí đầu tư ban đầu cao, thiếu kỹ năng vận hành và bảo trì máy móc, sự phản đối của một số người lao động thủ công.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận về tình hình chăn nuôi và thu hoạch nghêu ở nước ta 1. Tổng luận về tình hình chăn nuôi nghêu ở nước ta hiện nay Nước ta có bờ biển dài (khoảng 3.260 km), có tiềm năng rất lớn về phát triển nuôi trồng thủy hải sản. Trong chiến lược phát triển Nuôi trồng thuỷ sản hiện nay, động vật thân mềm được xem là đối tượng ưu thế và đầy triển vọng.

Với vai trò quan trọng làm thực phẩm, đa dạng đối tượng nuôi, góp phần vào việc làm sạch môi trường, ổn định sinh thái, là thành viên không thể thiếu trong nghề nuôi bền vững. Trong các loại động vật thân mềm thì nghêu là loài khá dễ nuôi, ít bệnh tật, không tốn thức ăn, thị trường dễ tiêu thụ, lợi nhuận cao. Nghề nuôi nghêu ven biển nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ về diện tích, sản lượng nuôi cũng như mức độ thâm canh trong những năm qua vì vậy ở nước ta hiện nay, nghêu được nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển phía Nam như Tiền Giang (Gò Công Đông) khoảng 2.300 ha, Bến Tre (Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú) khoảng 4.420 ha, Trà Vinh (Cầu Ngang, Duyên Hải) khoảng 1.500 ha, Sóc Trăng (Vĩnh Châu) khoảng 1.000 ha, Bạc Liêu (Bạc Liêu, Vĩnh Lợi, Ngọc Hiển) Khoảng 222 ha, ven biển Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) khoảng 2. Bên cạnh đó nghề nuôi nghêu ở một số tỉnh ven biển miền Bắc và Bắc Trung bộ có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, đã mang lại nguồn thu lớn cho nhiều nông hộ, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở nhiều địa phương.

Kết quả điều tra cho thấy Thái Bình có diện tích và sản lượng nghêu nuôi lớn nhất (khoảng 1.984ha) tiếp theo là Nam Định (khoảng 1.708ha), Thanh Hóa (khoảng 960ha), Quảng Ninh (khoảng 1.271ha) Hà Tĩnh có diện tích nuôi (khoảng 200ha). và một số tỉnh duyên hải Bắc và Trung bộ. download by : skknchat@gmail.com 5 Vùng nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan đến Việt Nam (duyên hải Nam bộ) rất phù hợp cho loài Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) sinh trưởng và phát triển. Nghêu Bến Tre là loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ (Bivalvia), ở nước ta chúng phân bố tự nhiên ở khu vực vùng triều cửa sông ven biển các tỉnh miền Tây Nam bộ như: Gò Công Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng);.

Môi trường sống của nghêu là các bãi có chất đáy cát bùn, chịu được độ mặn từ 7-25 ‰. Hình dạng: vỏ hình tam giác, nghêu lớn có chiều dài 40-50mm, chiều cao 40-45mm và chiều rộng 30-35mm. Từ năm 1999 trong việc tìm kiếm đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu của miền Bắc, nghêu Bến Tre được người dân đưa vào nuôi thử nghiệm ở một số vùng cửa sông ven biển và đã cho kết quả tốt. Nghêu Bến Tre.

download by : skknchat@gmail.com 6 Nghêu Bến Tre là đối tượng đang được người dân quan tâm bởi giá trị dinh dưỡng của nó. Thịt thơm ngon có nhiều chất dinh dưỡng trong đó Prôtêin chiếm 15,66%, Lipit chiếm 3,43%, khoáng chiếm 3-13% và đang là một trong những mặt hàng hải sản có giá trị xuất khẩu cao. Đặc biệt tháng 10/2008 Hội đồng bảo tồn biển quốc tế vừa cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn thương hiệu MSC (Marine Sterwarship Council) cho nghêu Bến Tre trở thành đặc sản biển đầu tiên của cả khu vực Đông Nam Á. Sự công nhận này sẽ giúp con nghêu Bến Tre có nhiều cơ hội xuất khẩu sang nhiều thị trường trong khu vực và trên thế giới.

Đặc điểm tự nhiên vùng chăn nuôi nghêu Nghêu là loài sống vùi phân bố trên các bãi biển, eo vịnh có đáy là cát pha bùn. Theo nghiên cứu chỉ tiêu môi trường của nghêu ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nghêu thường phân bố nhiều ở nơi nền đáy có tỷ lệ cát 68 - 75%, tỷ lệ sét 21 - 31%, đất thịt có tỷ trọng thấp < 7%. Bãi nghêu phân bố thường ở gần cửa sông có sóng gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy vào. Chúng phân bố từ vùng trung triều, hạ triều, cho đến độ sâu 1-2m nước, có khi bắt gặp ở cả độ sâu 2-4m.

Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát. Nghêu là loài rộng nhiệt: Chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5 - 35oC, khoảng nhiệt độ thích hợp cho nghêu phát triển là 28-31oC, tốc độ dòng chảy 0,1 - 0,25 m/s, hàm lượng oxy hoà tan khoảng 4 - 6 mg/l, pH 6-9, độ mặn dao động từ 19- 26%0 độ mặn phù hợp cho ngao phát triển nhất là 22-25%0. Nghêu sinh trưởng theo mùa, đặc biệt là vào mùa mưa, chất hữu cơ từ các cửa sông đổ ra nhiều, nghêu mau lớn, sinh trưởng nhanh. Nghêu là loài phân tính đực cái riêng, chưa gặp hiện tượng lưỡng tính.

Khi tuyến sinh dục thành thục, nó căng lên như hai múi bưởi, màu nâu nhạt. Số trứng trong noãn sào con cái 3.000 trứng trong một cá thể. Đây là loài download by : skknchat@gmail.com 7 sinh sản quanh năm, nhưng tập trung vào tháng 1 đến tháng 2 và tháng 7 đến tháng 8. Tỷ lệ đực cái trung bình 1:1, 5.

Một con nghêu cái có thể đẻ hàng triệu trứng một lần. Đẻ trung bình 5 triệu trứng/cá thể. Ấu trùng nghêu sống trôi nổi trong nước một thời gian thì hình thành vỏ rồi chìm xuống đáy. Nghêu “cám” bé bằng nửa hạt gạo, vỏ mỏng, dẹp, nặng 0,04-0,07 g (15.000 con/kg) vùi sâu xuống cát khoảng 1 cm, lên kiếm ăn theo thủy triều và thường bị sóng cuốn và dòng triều đưa đi tương đối xa, có khi dạt lên cao, bị phơi khô mà chết.

Sau khoảng hơn 1 tháng, nghêu cám lớn thành nghêu giống, nặng 0,16-0,20 g (5.000 con/kg), vỏ đã tương đối cứng, có thể đem ươm ở các bãi. Chọn bãi nuôi nghêu ở vùng gần bờ, cách khoảng 500 m; không quá gần cửa sông (vùng nước ngọt đổ ra biển); cách xa nơi bị ô nhiễm từ nguồn nước thải nội địa, nhất là nơi thải của các loại hóa chất; ít bị sóng gió tác động, thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý. Mặt bãi cần bằng phẳng, không ứ đọng nước nhiều, có chế độ thủy triều lên xuống đều đặn, khi nước rút thì bãi hoàn toàn cạn (thời gian phơi bãi khoảng 5-6 giờ/ngày). Chất đáy là cát bùn, trong đó cát chiếm từ 70-90%.

Trước khi thả giống, cần nhặt bỏ các tạp chất có trong bãi, cắm cọc và rào lưới chắn xung quanh. Nghêu là loại động vật ăn lọc, 90% thức ăn là mùn bã hữu cơ, còn lại là sinh vật phù du-chủ yếu là tảo silic, tảo giáp, tảo lam, tảo lục và tảo kim. Nghêu ăn và tăng trưởng mạnh từ tháng thứ hai đến tháng thứ năm. Mưa lũ làm giảm độ mặn, khiến nghêu ít ăn và chậm lớn.

Khi nghêu tăng trưởng, khối lượng thịt tăng chậm hơn so với vỏ. Cứ 100 kg nghêu cỡ 35-37 mm (45-50 con/kg), ta thu được 7,7-8,3 kg thịt; nhưng với download by : skknchat@gmail.com 8 100 kg nghêu to cỡ 49-50 mm (19-21 con/kg) thì chỉ thu được 6,7-7,3 kg thịt. Vì vậy không nên để nghêu quá lớn mới thu hoạch. Năng suất và các phương pháp thu hoạch nghêu ở nước ta Năng suất nuôi nghêu Theo khảo sát hiện nay năng suất nuôi nghêu trung bình là 20-25 tấn/ha, nhưng nếu người nuôi có kinh nghiệm và kỹ thuật cao, chăm sóc tốt thì có thể đạt 50-55 tấn/ha, như vậy nếu mật độ nghêu phân bố đều thì mỗi m2 bãi nuôi có thể thu hoạch từ 2 đến 5,5 kg nghêu thịt.

Thu hoạch Thu hoạch nghêu là khâu nặng nhọc, chiếm nhiều nhân công nhất trong quy trình nuôi nghêu và quyết định rất nhiều đến năng suất. Giá ngày công lao động vào thời vụ thu hoạch cao gấp 1,5 – 2 lần so với ngày thường. Để có thể thiết kế chế tạo ra máy thu hoạch nghêu có các đặc tính kỹ thuật phù hợp, đáp ứng các yêu cầu về năng suất, chất lượng khâu thu hoạch nghêu, cần thiết phải có các nghiên cứu đồng bộ liên quan đến đặc tính sinh trưởng, kỹ thuật nuôi nghêu, đặc điểm địa hình, tính chất đất, điều kiện khí hậu thời tiết thủy văn vùng bãi nuôi nghêu và các hình thức thu hoạch nghêu đã và đang được áp dụng. Thời gian thu hoạch quanh năm.

Khi nghêu đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 40 - 60 con/kg. Mùa thu có chất lượng cao vào tháng 4 - 7. Thu hoạch nghêu lúc đạt kích cỡ vừa (dài khoảng 30-40mm), sau 8-10 tháng nuôi. Chọn thu hoạch vào lúc cuối mùa mưa, là lúc nghêu mập, nặng ký, ngon.

Tiến hành thu hoạch vào lúc triều rút, lúc chúng đã được ăn no và thải ra các thức ăn thừa thãi, chỉ giữ lại nước nên thịt nghêu sẽ rất sạch (ngược lại, lúc triều lên, nghêu thường ngậm cát, bùn). download by : skknchat@gmail. Khai thác nghêu thủ công Khai thác nghêu hiện nay còn rất thủ công, người khai thác nghêu dùng cào sắt để cào nghêu. Sau một ngày làm việc mỗi người chỉ cào được khỏang 60- 70kg.

nên chi phí cho khâu thu hoa ̣ch là rấ t lớn đồ ng thời không đảm bảo đươ ̣c tiń h thời vu ̣. Một hình thức thu hoạch cho năng suất cao hơn là dùng áp lực và lưu lượng nước từ bơm nước để gom và làm sạch nghêu, tuy nhiên hình thức thu hoạch này yêu cầu phải có nguồn nước gần bãi nuôi, gây xáo trộn bề mặt vùng bãi nuôi sau thu hoạch. download by : skknchat@gmail. Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở trong nước và ngoài nước 1.

Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở ngoài nước Nghêu hiện nay đã được nuôi theo hình thức tập trung ở các nước thuộc khu vực châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…, tuy nhiên quy mô còn ở mức độ nhỏ vì vậy nhu cầu cơ giới hóa khâu thu hoạch chưa cao, hiện nay hình thức thu hoạch chủ yếu vẫn là thủ công và sử dụng một số công cụ hỗ trợ năng suất thấp. Tình hình cơ giới hóa thu hoạch nghêu ở trong nước Từ khi nghề nuôi nghêu ở nước ta hình thành và phát triển đến nay việc thu hoạch nghêu hoàn toàn bằng thủ công. Khi thủy triều hạ dần để lộ những bãi nghêu còn xâm xấp nước thì những người bắt nghêu dùng lưỡi cào hớt nhẹ lên lớp cát để nhặt nghêu. Lưỡi cào rà đến đâu, nghêu hiện ra đến đó, được họ nhặt cho vào gùi.

Công việc cào nghêu chỉ kết thúc khi con nước bắt đầu lên cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ