CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT HỒI TỴ 1. Khái niệm Luật hồi tỵ Luật Hồi tỵ (chữ Hán: 迴避 - phồn thể hoặc 回避 l - giản thể, tiếng Anh: Rules of Avoidance), là một từ Hán Việt cổ, hiểu sơ lược là “luật về sự tránh né”. Khái niệm “Hồi tỵ” có nhiều cách hiểu khác nhau, theo một số từ điển, Hồi tỵ được định nghĩa như sau: Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh định nghĩa: ““Hồi tỵ” là “tránh đi – Ví như một người bổ làm quan thư – hiến ở địa phương, nếu có một người bà con đã làm thuộc - liêu thì người ấy phải tránh, đổi đi chổ khác thế gọi là Hồi tỵ” [1, tr.
Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “hồi” là đi trở về, “tỵ” là lánh ra. “Hồi tỵ” nghĩa là tránh ra, hay lánh đi [24, tr. Theo TS Bùi Xuân Đính, Viện Dân tộc học, “Hồi tỵ” có nhiều nghĩa trong đó có nghĩa liên quan đến bố trí quan lại trong bộ máy Nhà nước nói chung [4, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích ““Hồi tỵ” là “quyền của các bên tham gia tố tụng yêu cầu tòa án thay đổi Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch khi có lí do chính đáng.
Lí do chính đáng ở đây được hiểu là những người bị yêu cầu thay thế do phía bên này nêu ra khi thấy những người đó là họ hàng thân thích của 12 phía bên kia hoặc có bằng chứng chứng minh rằng họ không vô tư khi tiến hành xét xử và ra quyết định, bản án…” [6, tr.378] Định nghĩa này để cập đến việc tránh để người tiến hành tố tụng có quan hệ họ hàng hoặc thân thiết với những người tham gia tố tụng khác, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư và công tâm của phiên tòa. Nếu có trường hợp như vậy, các bên tham gia tố tụng có thể đề nghị người tiến hành tố tụng, Như vậy chúng ta có thể hiểu “Hồi tỵ” là chính sách tuyển chọn bổ nhiệm, phân bổ, bố trí quan lại của triều đình phong kiến với mục đích tránh tình trạng những người quen biết cùng công tác tại một đơn vị, dẫn đến tình trạng kéo bè cánh, bị chi phối bởi các mối quan hệ tình cảm riêng vào công việc, giảm hiệu quả công tác và tác động tiêu cực đến văn hóa làm quan, làm giảm tính công bằng của xã hội. Để bộ máy hoạt động minh bạch, có hiệu quả và có được sự tin tưởng từ nhân dân thì trước hết những người làm việc trong bộ máy ấy phải vô tư, khách quan, tận tụy vì công việc chung. Mục đích ra đời Luật Hồi tỵ được xây dựng dựa trên truyền thống văn hóa của người Trung Quốc và Việt Nam, đó là việc đề cao các mối quan hệ gia đình, họ hàng, làng xã – những mối quan hệ thân thuộc nhất đối với mỗi người.
Xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp có truyền thống làng xã, người dân có xu hướng chú trọng tới các mối quan hệ hòa đồng, tư duy cầu an, ưa ổn định, cộng thêm đặc trưng đề cao tình cảm gia đình, tình cảm dòng tộc, huyết thống, đó là những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta, nhưng chính vì thế mà khó tránh khỏi tiêu cực là con người có những suy nghĩ cố hữu cho một nhóm người, tinh thần cộng đồng không cao. Luật hồi tỵ ra đời nhằm tránh tình trạng sự vô tư của người làm công tác bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ thân hữu cùng nhậm chức trong một cơ 13 quan – một trong những nguy cơ dẫn đến tham nhũng, là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của văn hóa dân gian và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo. Luật Hồi tỵ ra đời nhằm giảm thiểu tình trạng cát cứ, kéo bè phái, giải quyết 2 nhu cầu cấp thiết là tạo ra một hệ thống quan liêu phục vụ cho nhà nước quân chủ tập quyền, tuyệt đối phục vụ nhà vua và quyền lực trung ương, nâng cao hiệu quả làm việc của quan lại, chống tham nhũng xảy ra trong bộ máy này. Mục đích cốt lõi của chế định này là phòng chống tệ nạn “một người làm quan cả họ được nhờ” – nguồn gốc của tình trạng lũng loạn, lạm quyền và thân tộc nhũng nhiễu trong công việc của một địa phương.
LUẬT HỒI TỴ TRONG NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRUNG QUỐC 1. Quy định về hồi tỵ trong pháp luật thời kỳ phong kiến ở Trung Quốc Theo các nhà sử học và luật học Trung Quốc, Hồi tỵ được xác lập đầu tiên ở cả hai triều Tây Hán và Đông Hán (từ 206 TCN đến 220 SCN), tiếp tục phát triển và hoàn thiện qua các triều đại phong kiến Trung Quốc, hoàn thiện ở mức cao nhất dưới thời Minh, Thanh. “Hồi tỵ” theo nguyên nghĩa tiếng Hán có nghĩa là né tránh, trốn tránh một cách cố ý. Trong “Hán thư, Triệu Quảng Hán truyện” có chép: “Gặp những việc do gió sinh ra, không cách nào tránh né”.
Sau này trong các thư tịch và văn bản pháp luật, hồi tỵ mang ý nghĩa là việc một người phải tâu lên cấp trên để đổi đi chỗ khác hoặc được phân công nhiệm vụ khác nếu được bổ nhiệm ở quê hương hoặc nơi có bà con thân thuộc, cơ quan có người thân, đồng liêu, hay gặp các việc liên quan đến người thân, ý nghĩa né tránh ở đây được xuất hiện nhiều lần với hàm nghĩa như vậy. Như trong “Nguyên sử. Hình pháp chí. Chức chế thượng” có ghi: “Các quan trong khi từ tụng, có những việc liên quan đến mình, đến người thân hoặc những người có quan hệ hôn nhân.
cần phải Hồi tỵ mà không Hồi tỵ, đều bị tội” [26, tr. Thanh hội điển có ghi: “Khang Hy năm thứ 3 quy định: quan viên đang đương chức bên ngoài mà ở Thượng ty có người đồng tộc thì phải Hồi tỵ”. Ngày nay ở Trung Quốc, thuật ngữ “hồi tỵ” vẫn còn tồn tại và được sử dụng. Trong từ điển pháp luật Trung Quốc: “Hồi tỵ là chỉ một nhân viên trong ngành tư pháp sẽ không tham gia vào quá trình tố tụng vì vụ án có liên quan đến lợi ích của họ hoặc họ có liên quan đến những đương sự trong vụ việc”.
15 Chế độ hồi tỵ đã được hình thành và thực hiện khá sớm tại Trung Quốc, với mục tiêu ngăn ngừa tình trạng kết bè kéo cánh, bổ nhiệm theo tình cảm các nhân, để các mối quan hệ bên ngoài ảnh hưởng đến việc quyết định các công việc quản lý và công tác của quan lại tại trung ương lẫn địa phương; đồng thời, đây cũng là nguyên tắc pháp định về quản lý nhân sự dựa trên pháp luật. Pháp luật phong kiến Trung Quốc khá chú trọng vào việc xây dựng và thiết lập chế độ hồi tỵ, ngoài việc áp dụng cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm quan lại thì còn được sử dụng trong các lĩnh vực khác như khảo thí, các chế độ tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài,… để lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm và bài học lịch sử vô cùng quý báu và phong phú. Giai đoạn Xuân Thu – Chiến Quốc Xuân Thu là giai đoạn từ năm 722 TCN cho đến năm 481 TCN trong lịch sử Trung Quốc. Tên của nó bắt nguồn từ cuốn Kinh Xuân Thu (Biên niên sử Xuân Thu) được cho là của Khổng Tử.
Giai đoạn này xảy ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập của khoảng 170 nước nhỏ, quyền lực được tập trung hóa. Ở thời điểm đó, Trung Quốc vẫn chưa được coi là một đế quốc. Sau Xuân Thu là đến thời đại Chiến Quốc, là giai đoạn mà các vua chư hầu ở địa phương sáp nhập các tiểu quốc nhỏ hơn xung quanh để củng cố quyền lực, kết thúc vào năm 221 TCN khi Tần Thủy Hoàng – vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc – lên ngôi, Trung Quốc bắt đầu giai đoạn phong kiến tập quyền. Ở thời Xuân Thu, vua nhận được các đồ cống nạp từ các quý tộc cai trị tại các nước chư hầu, vua không trực tiếp kiểm soát các tiểu quốc chư hầu của mình, thay vào đó quyền lực của nhà vua phụ thuộc vào sự trung thành chung của các quận công và quý tộc.
Nhận thấy nguy cơ quyền lực nhà vua giảm sút và một tình thế hỗn loạn nếu lòng trung thành giảm đi, Tần Thủy Hoàng đã dựng lên một Trung Quốc với một thể chế tập trung mạnh mẽ không dựa vào lòng trung thành của các quận công địa phương. 16 Để làm được điều đó, nhà nước cần đảm bảo có một chính sách bổ nhiệm quan lại hợp lý, đảm bảo sinh lực quốc gia mạnh mẽ, củng cố thực lực. Nguyên tắc hồi tỵ đã được manh nha trong thời kỳ này. Trong cải cách chính trị của Thương Ưởng (nhà cải cách lớn thời nhà Tần), ông đã thủ tiêu nguyên tắc “thế tập quan lộc”, và quy định nếu có quân công sẽ được hưởng 20 quan tước để khuyến khích nông dân và binh lính.
Tiếp theo, việc ban bố tước vị phải gắn liền với quân công, ai lập quân công mới được hưởng tước vị [6]. Triều nhà Hán Triều nhà Hán chính là thời kỳ chế độ hồi tỵ được chính thức xác lập. Thời kỳ đầu của nhà Tây Hán, quan lại được bổ nhiệm không hạn chế về quê quán. Dưới thời Hán Vũ Đế, để duy trì sự tập trung quyền lực, tăng cường thiết chế quân chủ trung ương tập quyền, hạn chế tình trạng cát cứ địa phương, việc bổ nhiệm quan lại địa phương và các chức giám quan bắt đầu có sự hạn chế về quê quán.
Đến thời Hán Linh Đế của nhà Đông Hán, chế độ hồi tỵ lần đầu tiên được ban hành trong một bộ luật thành văn dưới tên gọi “Tam hỗ pháp”. Ngoại trừ các châu, quận, huyện tại kinh kỳ có tính chất nửa trung ương nửa địa phương không phải chịu sự hạn chế, thì từ chức Quận thủ cho đến các chức quan tại cấp huyện đều bị hạn chế không dùng người của quận, huyện đó, chức quan Thích sử cũng không dùng người tại châu đó. Ngoài ra, để ngăn ngừa sự ham muốn đế vị của những người trong tôn thất, ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường, thống nhất của chính quyền trung ương, quy định người trong tôn thất không được quản lý 3 quận trực thuộc kinh kỳ. Vào thời Đông Hán (25 – 220), các hạn chế về quê quán trong quá trình lựa chọn các chức danh Thích sử châu, Quận quốc thủ tướng và quan viên cấp huyện là tương đối nghiêm ngặt, ngay cả các châu, quận, huyện tại kinh kỳ cũng quy định không dùng người bản địa.