Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Quảng Bình

Luận văn phân tích thực trạng, đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới tại Quảng Bình nhằm phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Quảng Bình

Luận văn “Xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Quảng Bình” là một công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nông thôn kiểu mới. Nghiên cứu này phân tích sâu sắc quá trình triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu của chương trình không chỉ dừng lại ở việc thay đổi diện mạo nông thôn. Nó còn hướng đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Quá trình này được thực hiện dựa trên một hệ thống nguyên tắc và nội dung cụ thể, tuân thủ chặt chẽ theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Đây là một chủ trương lớn, có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước. Nó đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của toàn xã hội. Luận văn đã chỉ ra, thành công của chương trình phụ thuộc rất lớn vào việc phát huy vai trò chủ thể của người dân. Họ vừa là người thực hiện, vừa là người hưởng lợi trực tiếp từ những thành quả đạt được. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng thể về các quan điểm chỉ đạo, quy trình triển khai và những kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ thực tiễn của các địa phương khác, làm tiền đề quan trọng cho việc phân tích thực trạng tại Quảng Bình.

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chương trình NTM

Cơ sở lý luận của chương trình xây dựng Nông thôn mới (NTM) bắt nguồn từ quan điểm của Đảng về tam nông: nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã khẳng định đây là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về thực tiễn, chương trình kế thừa và phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia trước đó. Nó không phải là một dự án đầu tư hạ tầng đơn thuần, mà là một cuộc vận động toàn diện trên mọi lĩnh vực. Các mô hình thành công từ Thái Bình, Hà Tĩnh cho thấy vai trò của người dân trong xây dựng NTM là yếu tố quyết định. Họ trực tiếp tham gia từ khâu quy hoạch đến giám sát thi công, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững và phù hợp với đặc thù địa phương.

1.2. Phân tích 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia

Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được ban hành theo Quyết định 491/QĐ-TTg, bao gồm 19 tiêu chí và 5 nhóm nội dung chính. Các nhóm này bao gồm: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - Xã hội - Môi trường; và Hệ thống chính trị. Mỗi tiêu chí đều có các chỉ tiêu cụ thể, định lượng rõ ràng, làm thước đo để đánh giá mức độ hoàn thành của từng địa phương. Ví dụ, tiêu chí về giao thông yêu cầu 100% đường trục xã được bê tông hóa. Tiêu chí thu nhập yêu cầu bình quân đầu người cao hơn 1,4 lần mức trung bình của tỉnh. Hệ thống tiêu chí này đảm bảo sự phát triển đồng bộ, toàn diện, tránh tình trạng phát triển lệch lạc, chỉ chú trọng kinh tế mà bỏ qua văn hóa, môi trường.

1.3. Nguyên tắc cốt lõi và quy trình triển khai NTM

Việc xây dựng NTM tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính. Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng và hỗ trợ. Thứ hai, thực hiện trên cơ sở lồng ghép các chương trình, dự án khác. Thứ ba, gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quy trình triển khai được thực hiện bài bản qua 7 bước. Bắt đầu từ thành lập Ban Chỉ đạo, tuyên truyền, khảo sát thực trạng, lập đề án, xây dựng quy hoạch, tổ chức thực hiện và cuối cùng là giám sát, đánh giá. Quy trình này đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch, giúp huy động nguồn lực cộng đồng một cách hiệu quả nhất.

II. Thực trạng và thách thức trong xây dựng NTM ở Quảng Bình

Giai đoạn 2011-2013 là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại Quảng Bình. Luận văn đã tiến hành phân tích, đánh giá chi tiết thực trạng nông thôn tỉnh nhà dựa trên 19 tiêu chí quốc gia. Trước khi triển khai chương trình, Quảng Bình đối mặt với nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng nông thôn còn nhiều yếu kém và thiếu đồng bộ. Hệ thống giao thông, thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và dân sinh. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đặc biệt ở các huyện miền núi. Quá trình triển khai chương trình cũng bộc lộ những thách thức lớn. Nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Việc huy động nguồn lực từ cộng đồng và doanh nghiệp còn nhiều lúng túng. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về vai trò chủ thể chưa thực sự sâu sắc, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Bên cạnh đó, các yếu tố về điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như bão, lũ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ và kết quả thực hiện. Việc phân tích kỹ lưỡng những thực trạng và thách thức này là cơ sở để đề ra các giải pháp phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.

2.1. Đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng nông thôn trước 2011

Theo số liệu khảo sát năm 2010, hiện trạng cơ sở hạ tầng nông thôn Quảng Bình còn nhiều hạn chế. Về giao thông, nhiều tuyến đường trục xã, thôn, xóm chưa được cứng hóa, gây khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, đặc biệt vào mùa mưa lũ. Hệ thống thủy lợi chưa được kiên cố hóa đồng bộ, hiệu quả tưới tiêu thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Hệ thống điện, trường học, trạm y tế và các thiết chế văn hóa cơ sở tuy đã được đầu tư nhưng chưa đạt chuẩn quốc gia ở nhiều xã. Tình trạng nhà tạm, dột nát vẫn còn tồn tại. Đây là một xuất phát điểm thấp, đòi hỏi nỗ lực và nguồn lực đầu tư rất lớn để hoàn thành các tiêu chí NTM.

2.2. Khó khăn trong phát triển kinh tế và giảm nghèo

Việc phát triển kinh tế - xã hội Quảng Bình ở khu vực nông thôn gặp nhiều trở ngại. Nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp thuần túy, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm. Các hình thức tổ chức sản xuất như hợp tác xã hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với mức trung bình chung của cả nước. Do đó, công tác giảm nghèo bền vững là một thách thức lớn. Tỷ lệ hộ nghèo ở một số xã miền núi, vùng sâu vùng xa còn rất cao. Khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền có xu hướng gia tăng, tiềm ẩn nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

2.3. Thách thức về nguồn vốn và huy động sức dân tham gia

Nhu cầu vốn để xây dựng NTM là rất lớn, trong khi ngân sách địa phương còn hạn hẹp. Việc huy động vốn từ các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn do lợi nhuận thấp, rủi ro cao. Một thách thức khác là nhận thức và sự tham gia của người dân. Luận văn chỉ rõ, một số địa phương còn lúng túng trong công tác tuyên truyền, vận động. Điều này dẫn đến tình trạng người dân chưa hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình, còn tâm lý trông chờ vào sự đầu tư của nhà nước. Việc phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM chưa được như kỳ vọng, làm chậm tiến độ và giảm tính bền vững của chương trình.

III. Giải pháp quy hoạch và phát triển kinh tế nông thôn mới

Để vượt qua các thách thức, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào hai trụ cột chính: quy hoạch và phát triển kinh tế. Công tác quy hoạch phải đi trước một bước, đóng vai trò định hướng tổng thể. Quy hoạch NTM không chỉ là quy hoạch xây dựng hạ tầng, mà phải là quy hoạch phát triển sản xuất, bố trí dân cư và bảo vệ môi trường một cách khoa học. Giải pháp thứ hai là tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội Quảng Bình một cách bền vững. Điều này đòi hỏi phải đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp Quảng Bình, chuyển từ sản xuất theo số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng. Cần hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật và liên kết theo chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề nông thôn là hướng đi tất yếu để chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Các giải pháp này cần được thực hiện một cách quyết liệt và sáng tạo, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương.

3.1. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý

Chất lượng quy hoạch quyết định sự thành công lâu dài của chương trình. Cần đảm bảo quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu phải gắn với phát triển sản xuất hàng hóa. Quy hoạch phát triển khu dân cư phải giữ được bản sắc văn hóa tốt đẹp của làng quê Việt Nam. Đặc biệt, việc quản lý nhà nước về nông thôn mới trong công tác quy hoạch phải được tăng cường. Cần công khai, minh bạch các đồ án quy hoạch để người dân biết, bàn bạc và giám sát thực hiện. Tránh tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch không khả thi gây lãng phí nguồn lực và bức xúc trong nhân dân. Đến 31/12/2013, 141/141 xã trên toàn tỉnh đã phê duyệt xong quy hoạch chung, đây là một tiền đề quan trọng cho các bước tiếp theo.

3.2. Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị sản phẩm

Đây là giải pháp đột phá để nâng cao thu nhập. Tái cơ cấu nông nghiệp Quảng Bình cần tập trung vào các sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh. Cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn, đất đai, khoa học công nghệ để hình thành các mô hình liên kết “4 nhà” (Nhà nông - Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp). Việc xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại cho nông sản Quảng Bình cũng cần được chú trọng. Điều này giúp nông sản không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà còn vươn ra thị trường cả nước và quốc tế, đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực nông thôn.

3.3. Phát triển du lịch nông thôn và các ngành nghề phụ

Quảng Bình có tiềm năng lớn về du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Việc phát triển du lịch nông thôn là một hướng đi hiệu quả để đa dạng hóa nguồn thu nhập. Cần xây dựng các tour, tuyến du lịch gắn với các làng nghề truyền thống, các di tích văn hóa, lịch sử và cảnh quan thiên nhiên. Song song đó, cần khuyến khích phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Điều này không chỉ tạo việc làm tại chỗ, giảm áp lực di dân ra thành thị mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa độc đáo của địa phương.

IV. Bí quyết huy động nguồn lực và phát huy vai trò cộng đồng

Nguồn lực là yếu tố then chốt, nhưng cách thức huy động và sử dụng nguồn lực còn quan trọng hơn. Luận văn nhấn mạnh, bí quyết thành công nằm ở việc đa dạng hóa các nguồn lực và phát huy tối đa sức mạnh nội tại của cộng đồng. Phương châm được đưa ra là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, còn người dân là chủ thể thực hiện. Việc huy động nguồn lực cộng đồng không chỉ là đóng góp tiền bạc, ngày công, mà còn là sự tham gia vào quá trình ra quyết định. Khi người dân thực sự cảm thấy mình là chủ, họ sẽ tự nguyện, sáng tạo và có trách nhiệm hơn trong việc xây dựng quê hương. Cần tăng cường công tác tuyên truyền để thay đổi nhận thức, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại. Đồng thời, phải xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đủ năng lực, tâm huyết, thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là yếu tố quyết định để biến các chủ trương, chính sách thành hiện thực sinh động tại mỗi thôn, bản.

4.1. Phương pháp huy động nguồn lực cộng đồng hiệu quả

Để huy động nguồn lực cộng đồng hiệu quả, cần thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Mọi khoản đóng góp, mọi công trình xây dựng đều phải được bàn bạc công khai, dân chủ. Cần đa dạng hóa hình thức đóng góp: tiền mặt, ngày công lao động, hiến đất làm đường, vật liệu xây dựng... Kinh nghiệm từ các xã điểm cho thấy, khi người dân thấy được lợi ích thiết thực và tin tưởng vào sự quản lý minh bạch của chính quyền, họ sẵn sàng đóng góp vượt mức dự kiến. Cần tôn vinh, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có đóng góp tích cực. Đồng thời, cần tranh thủ nguồn lực từ con em xa quê, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

4.2. Nâng cao vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM

Nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng tâm. Điều này được thể hiện qua việc trao quyền cho người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn của chương trình. Từ việc tham gia ý kiến vào quy hoạch, lựa chọn công trình ưu tiên, đến việc thành lập các tổ giám sát cộng đồng để theo dõi chất lượng và tiến độ thi công. Cần tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghề cho lao động nông thôn để họ có thể tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập. Khi người dân có sinh kế ổn định, họ sẽ có điều kiện và động lực để tham gia xây dựng các công trình công cộng, góp phần xây dựng văn hóa nông thôn mới.

4.3. Tăng cường công tác đào tạo tập huấn cho cán bộ cơ sở

Đội ngũ cán bộ xã, thôn là lực lượng trực tiếp triển khai chương trình. Năng lực của họ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Do đó, cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý xây dựng, kỹ năng vận động quần chúng. Cán bộ cơ sở phải nắm vững 19 tiêu chí, hiểu rõ các cơ chế, chính sách của nhà nước để tuyên truyền, giải thích và hướng dẫn người dân thực hiện. Một đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” sẽ là hạt nhân quy tụ sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đảm bảo an ninh trật tự nông thôn và thúc đẩy chương trình đi đúng hướng.

V. Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới ở Quảng Bình

Sau 3 năm triển khai (2011-2013), chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực và toàn diện cho bộ mặt nông thôn Quảng Bình. Luận văn đã tổng hợp và đưa ra những số liệu cụ thể, minh chứng cho sự thành công bước đầu của chương trình. Kết quả xây dựng nông thôn mới ở Quảng Bình thể hiện rõ nét qua việc cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn. Nhiều công trình giao thông, thủy lợi, trường học được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân tăng. Đặc biệt, chương trình đã khơi dậy được tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường trong cộng đồng dân cư. Người dân đã hăng hái tham gia hiến đất, đóng góp công sức xây dựng quê hương. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đồng đều giữa các địa phương. Vẫn còn nhiều xã đạt số tiêu chí thấp. Đây là cơ sở để tỉnh rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, làm tiền đề cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

5.1. Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn 2011 2013

Tính đến cuối năm 2013, kết quả xây dựng nông thôn mới ở Quảng Bình rất đáng ghi nhận. Toàn tỉnh đạt bình quân 8,88 tiêu chí/xã, có 54 xã đạt từ 10 tiêu chí trở lên. 100% các xã đã hoàn thành công tác quy hoạch. Hàng nghìn km đường giao thông nông thôn được bê tông hóa. Hệ thống điện, trường học, trạm y tế được quan tâm đầu tư, từng bước đạt chuẩn quốc gia. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng NTM đã đi vào chiều sâu, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

5.2. Chuyển biến tích cực trong giảm nghèo bền vững và thu nhập

Một trong những thành công lớn nhất là cải thiện đời sống người dân. Các mô hình sản xuất hiệu quả được nhân rộng, góp phần tăng thu nhập. Nhờ đó, công tác giảm nghèo bền vững đạt được những kết quả quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể qua từng năm, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng. Sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng tuy vẫn còn nhưng đã từng bước được thu hẹp. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy chương trình đã đi đúng hướng, thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, đúng với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

5.3. Bài học kinh nghiệm từ các mô hình xã điểm thành công

Thành công của các xã điểm như Thanh Tân (Kiến Xương, Thái Bình) hay Tùng Ảnh (Đức Thọ, Hà Tĩnh) đã cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Bài học đầu tiên là phải làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu và đồng thuận. Thứ hai, phải có cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế, không rập khuôn máy móc. Thứ ba, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở là cực kỳ quan trọng. Thứ tư, phải công khai, minh bạch trong quản lý tài chính và xây dựng. Việc học hỏi và nhân rộng các mô hình nông thôn mới kiểu mẫu này là một hướng đi cần thiết để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng chương trình trên toàn tỉnh.

VI. Hướng đi và định hướng phát triển NTM Quảng Bình bền vững

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kết quả đạt được, luận văn đã đề ra những định hướng chiến lược cho giai đoạn tiếp theo. Mục tiêu không chỉ là hoàn thành 19 tiêu chí, mà là xây dựng một nền nông thôn phát triển toàn diện và bền vững. Hướng đi trong tương lai là tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt. Đồng thời, tập trung nguồn lực cho các xã còn nhiều khó khăn. Cần chú trọng hơn nữa đến các yếu tố “mềm” như văn hóa, môi trường và an sinh xã hội. Việc xây dựng mô hình nông thôn mới kiểu mẫu không chỉ đẹp về hạ tầng mà còn phải giàu về kinh tế, mạnh về văn hóa và trong lành về môi trường. Tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút mạnh mẽ hơn nữa các nguồn lực đầu tư, đặc biệt là từ khu vực tư nhân. Tăng cường quản lý nhà nước về nông thôn mới và phát huy dân chủ cơ sở sẽ là những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của chương trình.

6.1. Xây dựng mô hình nông thôn mới kiểu mẫu và nâng cao

Giai đoạn tới cần tập trung xây dựng các mô hình nông thôn mới kiểu mẫu, NTM nâng cao. Đây là những xã không chỉ đạt chuẩn 19 tiêu chí mà còn phải có những tiêu chí vượt trội về cảnh quan, môi trường, tổ chức sản xuất và thu nhập. Các mô hình này sẽ trở thành đích đến và là động lực cho các xã khác noi theo. Cần có bộ tiêu chí riêng cho NTM kiểu mẫu, tập trung vào chất lượng cuộc sống, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp, nông thôn. Đây là bước phát triển về chất, đưa nông thôn Quảng Bình tiệm cận với trình độ phát triển của các khu vực tiên tiến.

6.2. Giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển du lịch xanh

Bảo vệ môi trường nông thôn là một yêu cầu cấp bách để đảm bảo phát triển bền vững. Cần có giải pháp xử lý triệt để chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi. Cần nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Việc xây dựng cảnh quan nông thôn xanh - sạch - đẹp không chỉ cải thiện môi trường sống mà còn tạo điều kiện để phát triển du lịch nông thôn. Du lịch xanh, du lịch sinh thái sẽ là hướng đi mang lại giá trị kinh tế cao, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh và bảo tồn các giá trị văn hóa, tự nhiên của Quảng Bình.

6.3. Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và an ninh nông thôn

Để chương trình đi vào chiều sâu, cần tiếp tục tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về nông thôn mới. Cần kiện toàn bộ máy chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở, phân công rõ trách nhiệm cho từng cá nhân, đơn vị. Công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Song song đó, phải đặc biệt quan tâm đến việc đảm bảo an ninh trật tự nông thôn. Một môi trường xã hội ổn định, an toàn là điều kiện tiên quyết để người dân yên tâm lao động sản xuất và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, góp phần vào sự thành công chung của toàn bộ chương trình.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng xây dựng NTM tại tỉnh Quảng Bình - Chƣơng 4: Giải pháp xây dựng NTM tại tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NTM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, xây dựng NTM luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nƣớc, đồng thời cũng là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, nhà làm chính sách. Mặc dù sự quan tâm ở mức độ khác nhau song đều cùng hƣớng tới một mục tiêu xây dựng các xã NTM đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Lần đầu tiên trong lịch sử nƣớc ta, việc xây dựng NTM đƣợc đặt ra một cách toàn diện nhất.

Chính vì thế, trong thời gian qua đã có rất nhiều Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc, đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, trong đó có một số bài báo, sách, đề tài đã đề cập, định hƣớng đến nội dung xây dựng, phát triển NTM. Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008, Hội nghị Trung ƣơng 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là Nghị quyết có tính đột phá về tƣ tƣởng trong phát triển nông thôn so với các chiến lƣợc, chính sách trƣớc đó. Nhiều nội dung của Nghị quyết khi triển khai đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và tạo sự chuyển biến rõ nét, nhất là những nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp; giảm nghèo; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; vấn đề an sinh xã hội; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị vào công cuộc xây dựng NTM.

Có thể coi đây là một cuộc cách mạng to lớn và quan trọng nhằm tập trung xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về các hình thức tổ chức sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, có hiệu quả ở nông thôn; mối quan hệ giữa đô thị - nông thôn, công nghiệp - nông nghiệp và giữa trí thức - nông dân để bảo đảm phát 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển bền vững. Có thể nói rằng, lần đầu tiên, một văn kiện của Đảng khẳng định phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lƣợc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Nghị quyết cũng khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng dân cƣ nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn trên cơ sở kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Thực hiện Nghị quyết trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ Trung ƣơng (khóa X) đã ban hành các Kết luận về một số nội dung trong Nghị quyết, bao gồm Đề án An ninh lương thực quốc gia, Đề án Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới cấp xã, Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008, xác định “Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới”. Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 gồm 11 nội dung, với 19 tiêu chí. Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng NTM: “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí các điểm dân cƣ. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trƣờng.

Triển khai chƣơng trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bƣớc đi cụ thể vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trƣờng thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tƣ vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tƣ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động…” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với Nghị quyết của Đảng, những quyết sách của Chính phủ và sự vào cuộc mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao của các bộ, ban, ngành ở Trung ƣơng, các cấp chính quyền ở cơ sở, việc xây dựng NTM theo đúng lộ trình thực sự trở thành một cuộc vận động cách mạng của đất nƣớc trên con đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Công trình nghiên cứu: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng chủ biên do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chủ đề nghiên cứu nhƣ phân tích quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dƣới sự tác động của hệ thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể nhƣ chính sách đất đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp nông thôn nƣớc ta. Về những mô hình hợp tác xã nông nghiệp nƣớc ta, đƣợc coi là một mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn trong quan niệm xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, cũng đƣợc một tập thể các nhà khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu khá sâu sắc trong Đề tài tổng kết thực tiễn "Mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (2003) do GS, TS Lƣu Văn Sùng làm chủ nhiệm. Việc hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp Việt Nam cũng đã bƣớc đầu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm.

Một số tác giả nhƣ GS,TS Bùi Xuân Lƣu; GS,TS Nguyễn Điền, TS Nguyễn Từ; Th.S Nguyễn Thu Hằng. Công trình nghiên cứu: “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do GS, TS Bùi Xuân Lƣu, NXB Thống kê ấn hành năm 2004. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những đặc trƣng của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp; phân tích khái quát những thành 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tựu cũng nhƣ hạn chế của nông nghiệp nƣớc ta trong hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị về sửa đổi các chính sách và hoàn thiện vai trò của Nhà nƣớc để nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta hội nhập thành công. Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và môi trƣờng.

Rất nhiều tác giả quan tâm đến khía cạnh này của vấn đề. GS, TS Hoàng Chí Bảo về "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004); "Các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ cơ sở" của PGS, TSKH Phan Xuân Sơn (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002), TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông về "Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2003). PGS, TSKH Phan Xuân Sơn và Th.S Lƣu Văn Quảng đã trực tiếp bàn về chính sách, hơn nữa lại là chính sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn và chính sách dân tộc trong cuốn "Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay" (NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2005). Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc, NXB Thống kê, năm 2003.

Đây là công trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công trình còn cung cấp hệ thống tƣ liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta nhƣ là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta nhƣ vấn đề đầu tƣ, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã đƣợc tác giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về mô hình nông nghiệp, nông thôn trong lịch sử dân tộc là vấn đề rất đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm.

Đây cũng là vấn đề không thể thiếu khi xác định mô hình NTM hiện nay. Đặc biệt công trình nghiên cứu do PGS, TS Vũ Trọng Khải chủ trì đƣợc NXB Nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển của nông thôn Việt Nam. Công trình nghiên cứu này đƣợc xuất bản trên cơ sở đề tài cấp Nhà nƣớc do tác giả làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại”. Đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006 do GS, TS Nguyễn Kế Tuấn làm chủ nhiệm đã đề cập sâu đến khía cạnh phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta thời gian qua; đồng thời đề xuất phƣơng hƣớng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời gian tới.

Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nƣớc ta. Tuy nhiên, các công trình này không đi sâu nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách công về nông nghiệp, nông thôn nói chung và mô hình nông thôn mới của một tỉnh của Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ