Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Hiện nay, ở bậc giáo dục THPT việc phát huy năng lực tư duy là một trong những phương hướng cải cách, đổi mới giáo dục nhằm đào tạo ra thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có khả năng tự học, tự đánh giá. Vấn đề phát triển tư duy cho học sinh đã được nhiều giáo sư, nhà giáo đầu ngành nghiên cứu. Cụ thể: – Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kĩ năng giải BTHH ở trường PTTH cơ sở, Luận án phó tiến sĩ khoa học sư phạm tâm lí, Viện khoa học giáo dục Hà Nội [25].
– Lê Thị Hương (2002), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS qua giảng dạy phần hóa kim loại trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [19]. – Nguyễn Thị Hồng Ngọc (1998), Rèn luyện kỹ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ cho sinh viên khoa hoá trường Đại học Sư phạm, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình trên đều đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc, phương pháp giải khá hoàn thiện. Được tiếp xúc, tìm hiểu các luận văn có cùng hướng nghiên cứu đã giúp chúng tôi có nhiều kinh nghiệm quí báu và bài học bổ ích trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Chúng tôi nhận thấy rằng, đề tài về phát triển tư duy, năng lực sáng tạo được khá nhiều người quan tâm, nhất là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu và vận dụng vào phần Hóa lớp 11 nâng cao cũng chưa có nhiều tác giả quan tâm. Ngoài ra chúng tôi còn tìm thêm các biện pháp sử 6 dụng bài tập Hóa học nhằm phát triển tư duy cho học sinh cùng với việc đưa chúng vào các công đoạn trong quá trình dạy học ở trường THPT, xây dựng các bài test định tính và định lượng để đánh giá sự phát triển tư duy của học sinh sau khi thực nghiệm. Đó cũng chính là những giá trị mà đề tài của chúng tôi mong muốn hướng tới.1 Khái niệm [17, 37] Quá trình hoạt động nhận thức chia làm hai loại: - Nhận thức cảm tính: là quá trình phản ánh thực tiễn dưới dạng cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Nhận thức lý tính: còn gọi là trình độ logic hay đơn giản là tư duy. Tư duy là quá trình phản ánh trong ý thức con người bản chất của sự vật, những mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Quá trình tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ và sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính. “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ” (L.
Như vậy, HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi họ thực sự tư duy. Tư duy hóa học [15] Hóa học là một môn khoa học tự nhiên. Tư duy khoa học tự nhiên được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức khoa học tự nhiên, bao gồm: – Hiểu, xác định vấn đề một cách chính xác. – Xác định giới hạn giữa nó với các vấn đề khác.
– Nghiên cứu tất cả các yếu tố liên quan đến vấn đề đã nêu. – Vạch kế hoạch tìm tòi cách giải quyết. – Chọn lựa những suy đoán chính xác nhất. – Tiến hành thực nghiệm kiểm tra giả thuyết.
– Thực nghiệm đánh giá. 7 – Rút ra kết luận và cơ sở khoa học của chúng. – Chọn lựa phương án giải quyết tối ưu. – Mở rộng kết quả sang những trường hợp tương tự.
Tư duy hóa học cũng sử dụng những thao tác tư duy vào quá trình nhận thức thực tiễn và tuân theo qui luật chung của quá trình nhận thức. Những phẩm chất của tư duy [17, 37] – Tính định hướng: ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu để đạt mục đích đó. – Bề rộng: có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. – Độ sâu: nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng.
– Tính linh hoạt: nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo. – Tính mềm dẻo: hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều. – Tính độc lập: tự phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết được vấn đề. – Tính khái quát: sau khi giải quyết một vấn đề, đưa ra được mô hình khái quát để có thể vận dụng giải quyết các vấn đề tương tự, cùng loại.
Những hình thức cơ bản của tư duy [13, 34] 1. Khái niệm: là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng biệt của sự vật hiện tượng, được xây dựng trên cơ sở các thao tác tư duy. Khái niệm là điểm tựa cho tư duy phân tích, là cơ sở cho các hoạt động suy luận, khái quát hóa, trừu tượng hóa để đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng, đào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới. Phán đoán: là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ và sự phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong.
Suy lý: là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán với nhau để tạo một phán đoán mới. Có ba loại: quy nạp, diễn dịch và loại suy. Qui nạp: dựa vào sự nghiên cứu nhiều hiện tượng đơn lẻ đi tới kết luận tổng quát về những tính chất, những mối quan hệ bản chất nhất. Phép quy nạp giúp cho kiến thức được nâng cao và mở rộng.
Diễn dịch (suy diễn): đi từ nguyên lí, định luật, qui tắc, khái niệm chung đúng đắn tới một trường hợp (sự vật, hiện tượng) riêng lẻ đơn nhất. Phép suy diễn làm phát triển tư duy logic và phát huy tính tự lập sáng tạo của HS. Trong quá trình tư duy, quy nạp và suy diễn có liên hệ mật thiết với nhau. Cần phối hợp đúng lúc, đúng chỗ cả hai phương pháp, không nên quy nạp một chiều hoặc suy diễn đơn điệu.
Loại suy (suy lý tương tự): đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng biệt khác để tìm ra những đặc tính chung, những mối liên hệ có tính quy luật của các chất, các hiện tượng. Bản chất của phép loại suy là dựa vào một số dấu hiệu giống (tương tự) nhau của hai sự vật, hiện tượng nào đó để đi tới kết luận về sự giống nhau của chúng ở những dấu hiệu khác nữa. Kết luận đi tới được bằng phép loại suy chỉ gần đúng, có tính chất giả thiết, phải kiểm tra lại bằng thực tiễn. Phép loại suy có tác dụng tích cực trong nghiên cứu và dạy học Hóa học.
HS không thể nghiên cứu mọi chất mà chỉ xét kĩ một số chất tiêu biểu, còn các chất khác tương tự dễ dàng biết được bằng phép loại suy, tiết kiệm thời gian. Là một hình thức tư duy gián tiếp, suy lý đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động tư duy. Việc hướng dẫn qui tắc logic trong suy lý tạo hiệu quả lớn trong quá trình lĩnh hội tri thức. Các thao tác tư duy [13] Gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa.
Phân tích: phân chia một vật, một hiện tượng ra các yếu tố bộ phận để nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn theo một hướng nhất định. Tổng hợp: kết hợp các bộ phận, yếu tố đã được phân tích để nhận thức cái toàn bộ của sự vật, hiện tượng. Phân tích và tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau và là những yếu tố cơ bản của hoạt động tư duy. Phân tích sâu sắc, phong phú thì tổng hợp được chính xác, 9 trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ tạo tiền đề quan trọng cho sự phân tích.
So sánh: là xác định những điểm giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng và giữa những khái niệm phản ánh chúng. So sánh luôn phải kèm theo phân tích và tổng hợp. So sánh không những phân biệt và chính xác hóa khái niệm mà còn giúp hệ thống hóa chúng lại. Có hai cách so sánh: so sánh liên tiếp (tuần tự) hoặc so sánh đối chiếu.
Cụ thể hóa: là hoạt động tư duy tái sản sinh ra sự vật, hiện tượng với các thuộc tính bản chất của nó. Trừu tượng hóa: là sự phản ánh bản chất, cô lập sự vật, hiện tượng khỏi các mối liên hệ, chỉ giữ lại các dấu hiệu, các thuộc tính cơ bản và tước bỏ những thuộc tính không cơ bản. Khái quát hóa: tìm ra những cái chung và bản chất trong số những dấu hiệu, tính chất và những mối liên hệ giữa chúng của một loại đối tượng, từ đó hình thành nên một khái niệm. Khái quát hóa là bước cần thiết của trừu tượng hóa.
GV cần tập cho HS phát triển tư duy khái quát hóa bằng cách lập dàn ý, xây dựng kết luận và viết tóm tắt nội dung các bài, các chương của sách giáo khoa. Các mức độ tư duy * Một cách phân loại các mức độ tư duy được sử dụng rộng rãi là thang phân loại của Bloom [6, 11]. Theo Bloom, các quá trình nhận thức được xếp thành 6 mức độ từ đơn giản đến phức tạp gồm: 1. Biết (knowledge): là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây, nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết.
Vận dụng (application): là cấp độ thấu hiểu cao hơn, là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới, nghĩa là áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết để giải quyết một vấn đề nào đó bằng cách so sánh các phương án, phát hiện lời giải có sai lầm và chỉnh sửa được, giải quyết được tình huống mới, khái quát hóa, trừu tượng hóa tình huống quen thuộc sang tình huống mới phức tạp hơn. Phân tích (analysis): thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng, là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần sao cho có thể hiểu được các cấu trúc, tổ chức của nó, chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm, đòi hỏi thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu.