Đặt vấn đề Con dê là một trong những động vật được thuần hóa sớm nhất và hiện nay được nuôi phổ biến ở khắp các Châu lục. Dê có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau, bộ máy tiêu hóa của dê rất phát triển, có thể tiêu hóa nhiều chất xơ. Dê ăn được nhiều loại cỏ cây, có thể ăn trên đồi núi dốc, nơi mà trâu bò không thể tới. Thịt dê, sữa dê và các sản phẩm khác từ dê có giá trị cao.
Đặc biệt, thịt và sữa dê chiếm vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein động vật cho người ở các nước đang phát triển. Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng thịt dê ở các thành phố, thị xã, thị trấn tăng lên. Vì vậy, nhiều tỉnh đã có kế hoạch phát triển đàn dê địa phương. Nghề nuôi dê phát triển sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở các tỉnh trung du và miền núi nước ta.
Song, để phát triển chăn nuôi dê, còn gặp không ít khó khăn về con giống, thức ăn, thú y và đặc biệt là nhận thức của nông dân về nghề nuôi dê còn chưa đúng mức. Nước ta có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi dê, đặc biệt là các tỉnh miền núi. Số dê nuôi ở miền núi chiếm gần tổng đàn dê và được nuôi chủ yếu ở các hộ nông dân với quy mô nhỏ vài chục con. Huyện Định Hoá nằm giáp ranh 6 huyện của 3 tỉnh phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn và Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn).
Phía Nam giáp huyện Đại Từ và Phú Lương, phía Tây giáp huyện Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang). Định Hoá nằm giữa trung tâm 6 tỉnh Việt Bắc, nuớc non liên hoàn, hiểm trở. Những năm trước trong 500 km2 đất tự nhiên thì rừng chiếm gần 90%, chỉ n 2 còn 10% đất canh tác, hiện nay diện tích rừng đã giảm nhiều, tuy vậy điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng, khí hậu Định Hoá rất thuận tiện cho việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, đặc biệt là dê. Dê địa phương Định Hóa qua khảo sát ban đầu cho thấy, về ngoại hình dê có màu lông khá đa dạng.
Tầm vóc nhỏ, mắn đẻ, nhưng số con đẻ ra/lứa lại thấp, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa không cao bằng những giống dê khác. Về sinh trưởng, khối lượng sơ sinh của dê từ 1,2 - 1,3kg, 6 tháng tuổi con đực khoảng 7kg, con cái có trọng lượng khoảng 5kg, trưởng thành con cái nặng khoảng 17 - 20kg, con đực có trọng lượng khoảng 25- 30kg. Về chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc hơn so với thịt dê lai và các giống dê khác. Tuy nhiên, do điều kiện chăn nuôi khá hoang sơ, chưa áp dụng khoa học kỹ thuật, chuồng nuôi sơ sài, thức ăn dựa vào tự nhiên là chính, vấn đề phòng trị bệnh chưa được quan tâm.
Đó là những nguyên nhân chính làm cho dê bị cảm nhiễm với nguồn bệnh. Trong khuôn khổ đề tài quỹ gen Bảo tồn và phát triển nguồn dê địa phương huyện Định Hóa, Trường Đại học Nông Lâm đã thiết lập một mô hình chăn nuôi dê địa phương của huyện Định Hóa tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa. Để có cơ sở bảo vệ sức khỏe cho đàn dê địa phương, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xác định một số bệnh thường xảy ra trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu của chuyên đề Tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích và thực hiện biện pháp phòng, trị một số bệnh thông thường xảy ra trên đàn dê địa phương Định Hóa n 3 nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa - công ty CP khai khoáng miền núi. Kết quả của chuyên đề là cơ sở cho người chăn nuôi biết được nguyên nhân, triệu chứng và một số biện pháp phòng, trị một bệnh xảy ra trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa và một số địa phương khác. Yêu cầu của chuyên đề - Theo dõi tình hình mắc bệnh của đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa. - Biết được nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích của một số bệnh thông thường xảy ra trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa.
- Thực hiện biện pháp phòng, trị một số bệnh thông thường xảy ra trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập - Điều kiện tự nhiên + Vị trí địa lý Trang trại nằm trên địa bàn xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên 5,8 ha.
Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau: Phía Đông Bắc và Đông tiếp giáp với xã Phú Đô Phía Tây và Tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc Phía Nam giáp với xã Vô Tranh + Điều kiện về khí hậu Trang trại nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc nên có đặc điểm chung về thời tiết của khu vực. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập chung vào các tháng 6,7,8. Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn.
Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - 28˚C. Độ ẩm tương đối từ 80 - 85 %. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 15 - 19˚C.
Có những thời điểm nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương đối 70 - 75 %. Nhìn chung điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sản xuất của trang trại. Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất. Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình đất canh tác bằng phẳng, pha cát dẫn đến hiện tượng ngập úng cây trồng.
Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc. n 5 + Điều kiện về địa hình, đất đai Trang trại có địa hình bằng phẳng, có dòng Sông Cầu chảy qua, đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy. Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc sản xuất của trang trại, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn gia súc. Trong những năm gần đây trại đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao.
Chính vì vậy, mà đã giải quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức ăn dự trữ cho mùa khô. Tổng diện tích của trang trại là 5,8 ha trong đó có 1,5 ha là diện tích trồng cây thức ăn cho gia súc. Diện tích đồng cỏ chăn thả là 01 ha. Như vậy, đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc.
+ Giao thông Trang trại nằm ở xã Tức Tranh có điều kiện giao thông thuận lợi. Cách thành phố Thái Nguyên 30 km về phía Tây Nam theo tuyến quốc lộ 3. Tuyến đường liên 3 xã Tức Tranh - Yên Lạc - Yên Đổ hiện nay đã hoàn thành con đường bê tông thuận tiện cho việc đi lại của người dân. Đây là con đường đi qua 17 xóm, trong đó 1 xóm thuộc xã Tức Tranh, 1 xóm thuộc xã Yên Đổ và 15 xóm thuộc xã Yên Lạc.
Điểm đầu của tuyến đường được nối với đường liên xã Phấn Mễ - Tức Tranh tại địa phận xóm Cầu Trắng, xã Tức Tranh. Do vậy rất thuận lợi cho giao thông, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trang trại. +Thuỷ lợi Trang trại có dòng Sông Cầu chảy qua nên thường xuyên cung cấp nước cho trồng trọt và chăn nuôi. Trang trại còn xây dựng hệ thống ống dẫn nước cho sản xuất.
Chính vì vậy, diện tích sản xuất của trang trại được đảm bảo về nước tưới. -Điều kiện kinh tế - xã hội Trang trại tại xã Tức Tranh thuộc Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa. Đây là một trung tâm nghiên cứu, phát triển ngành chăn nuôi các vật nuôi n 6 bản địa của tỉnh trung du và miền núi. Cơ sở có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài và cải tiến khoa học kỹ thuật, sáng tạo ra những phương pháp cải tiến trong chăn nuôi và sản xuất chính vì vậy nguồn thu kinh tế từ sản xuất kinh doanh là không nhiều.
Chính vì thế mà đời sống về vật chất của trang trại còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cơ sở đã từng bước khẳng định mình và tạo được thế đứng trong xã hội bằng cách ngày càng nhân rộng các mô hình, áp dụng các khoa học kỹ thuật vào thực tiến sản xuất. Đến nay trang trại đã khẳng định được sự tồn tại, vị thế của mình trong sự nghiệp phát triển chăn nuôi khu vực miền núi và nền kinh tế thị trường. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nƣớc có liên quan đến nội dung của chuyên đề 2.
Đặc điểm giống dê địa phương - Nguồn gốc dê địa phƣơng Rất nhiều nhà khoa học ở các nước khác nhau đã nghiên cứu về nguồn gốc của dê nhà, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này song phần lớn ý kiến cho rằng: Dê là một loài vật nuôi được con người thuần hóa sớm nhất sau đó là chó. Các nhà khoa học đã xác định rằng, dê nhà đã xuất hiện cách đây 6 -7 nghìn năm trước công nguyên. Kết quả đây cũng phù hợp với kết quả xác định niên đại các mảnh xương dê nhà được tìm thấy di chỉ đồ đá mới của Jeri, nhìn chung khó xách định được thật chính xác thời điểm con người thuần hóa dê rừng. Nhưng với dẫn liệu đặc biệt tìm thấy gần đây người ta cho rằng: nơi thuần hóa đầu tiên là ở châu Á (Devendra và Nozawa, 1976)[13] vào thiên niên kỷ thứ 7- 9 trước công nguyên, tại vùng núi Tây Á.
Thực tế ngày nay người ta còn thấy nhiều loài dê nguyên thủy với số lượng lớn ở thung lũng đầu nguồn sông Ấn và những dãy núi nằm ở phía Đông sông này.