Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự tham gia chủ động từ mọi thành phần xã hội. Theo thống kê thực tiễn trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005, Việt Nam đã có hàng nghìn hội, đoàn thể và tổ chức phi chính phủ ra đời, đóng góp tích cực vào mạng lưới an sinh công cộng. Tuy nhiên, quá trình phát triển tự phát của các tổ chức tự quản tại một số địa phương đang đặt ra thách thức lớn đối với vai trò quản trị của các cơ quan công quyền. Thực tiễn quản lý cho thấy khoảng trống trong cơ chế giám sát và phản biện xã hội đã làm suy giảm tính minh bạch, khiến việc hoạch định chính sách chưa thực sự phản ánh toàn diện ý chí của nhân dân.

Công trình khoa học này tập trung giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và không gian hoạt động của xã hội công dân. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm sáng tỏ hệ thống quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng chính trị phương Đông và phương Tây về quyền tự do lập hội; đồng thời đánh giá toàn diện bức tranh vận động của các tổ chức xã hội tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2006. Về phạm vi không gian, luận văn khảo sát các thiết chế đại diện trên phạm vi toàn quốc, tập trung phân tích sâu dữ liệu thực nghiệm tại hai trung tâm đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa then chốt của nghiên cứu là xác lập cơ sở khoa học nhằm nâng cao chỉ số hiệu quả quản trị công, củng cố sự đồng thuận xã hội và hoàn thiện thể chế chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống lý thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Kinh điển Mác - Lênin khẳng định xã hội công dân là nền tảng quy định sự ra đời và tồn tại của nhà nước, trong đó quan hệ sản xuất và đời sống vật chất đóng vai trò quyết định cấu trúc thượng tầng chính trị. Luận văn tiếp thu lý thuyết bá quyền văn hóa của Antonio Gramsci, nhìn nhận các tổ chức hội đoàn vừa là thành lũy bảo vệ chế độ vừa là không gian thực hành phản biện công dân. Bên cạnh đó, các học thuyết về khế ước xã hội của John Locke và Jean-Jacques Rousseau cũng được phân tích nhằm xác lập bản chất pháp lý của hiến pháp như một sự ủy quyền quyền lực từ nhân dân sang bộ máy công quyền.

Mô hình nghiên cứu trung tâm của luận văn là cấu trúc tương tác ba bên giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội công dân. Mô hình này làm rõ những điểm giao thoa và khoảng trống quyền lực trong quản trị quốc gia hiện đại. Đồng thời, đề tài tích hợp khung phân tích Chỉ số Xã hội Dân sự do Liên minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân (CIVICUS) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc phát triển. Năm khái niệm cốt lõi được thao tác hóa xuyên suốt công trình gồm: Xã hội công dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Vốn xã hội, Khế ước xã hội và Cơ chế phản biện xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu thứ cấp quy mô lớn và hệ thống văn bản pháp lý ban hành từ năm 1957 đến năm 2005. Cỡ mẫu nghiên cứu kế thừa bao gồm dữ liệu khảo sát từ 1.200 cá nhân đại diện cho các tầng lớp nhân dân về mức độ tham gia hội đoàn, kết hợp với bộ dữ liệu phân tích chuyên sâu trên 150 tổ chức xã hội công dân chuyên đề tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát cả hai khối thực thể: các tổ chức chính trị - xã hội truyền thống và các hội nghiên cứu khoa học kỹ thuật mới thành lập.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thể chế so sánh kết hợp phân tích xã hội học định lượng là nhằm bóc tách bản chất chính trị - pháp lý đặc thù của Việt Nam, tránh sự rập khuôn máy móc theo mô hình phương Tây. Đề tài vận dụng phương pháp logic - lịch sử để theo dõi sự biến chuyển của các quy phạm pháp luật qua từng thời kỳ. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007 trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu cấp cơ sở tại Viện Kinh điển Mác - Lênin thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội truyền thống của người dân Việt Nam chiếm tỷ lệ vượt trội so với các nhóm dân sự độc lập. Số liệu khảo sát thực chứng chỉ ra rằng khoảng 68.5% người dân tham gia sinh hoạt trong các tổ chức quần chúng như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên hay Hội Cựu chiến binh. Trong khi đó, tỷ lệ tham gia vào các tổ chức tình nguyện hoặc hội nghề nghiệp tự quản độc lập chỉ đạt khoảng 12.3%. Điều này phản ánh đặc thù lịch sử khi hệ thống chính trị một đảng cầm quyền giữ vai trò nòng cốt trong việc tập hợp lực lượng xã hội.

Thứ hai, các tổ chức xã hội chuyên đề có sự phân hóa nghiêm trọng về nguồn thu và tính bền vững tài chính. Báo cáo phân tích thu nhập của các tổ chức phi chính phủ trong nước năm 2000 cho thấy nguồn tài trợ từ các dự án quốc tế chiếm tới 74.2% tổng ngân sách hoạt động. Nguồn thu từ hội phí hoặc đóng góp tự nguyện nội địa chỉ chiếm khoảng 18.6%, còn lại 7.2% đến từ các hợp đồng dịch vụ công hoặc hỗ trợ hạn chế từ ngân sách nhà nước. Thực tế này bộc lộ sự phụ thuộc lớn vào các nhà tài trợ nước ngoài, tiềm ẩn rủi ro chệch hướng mục tiêu hoạt động xã hội.

Thứ ba, cơ chế phản biện xã hội chưa tương xứng với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền. Điểm số đánh giá chỉ số kiểm soát tham nhũng tại Việt Nam vào năm 2005 ghi nhận mức 2.6 trên thang điểm 10, trong khi hiệu quả hoạt động chính phủ đạt 42 trên 100 điểm phân vị theo xếp hạng quốc tế. Thực trạng này cho thấy việc thiếu vắng các kênh giám sát độc lập từ cộng đồng đã hạn chế đáng kể tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của đội ngũ công quyền.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên bắt nguồn từ di sản lịch sử của nền hành chính tập quyền kéo dài qua nhiều thế kỷ phong kiến và thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam mới định hình, chưa hoàn thiện đồng bộ các tiền đề kinh tế cho sự tự chủ của cá nhân. So sánh với các mô hình tại châu Á như Singapore hay Trung Quốc, mức độ tham gia các tổ chức dân sự chuyên nghiệp của Việt Nam thấp hơn Singapore khoảng 25%, nhưng tính gắn kết cộng đồng tại cơ sở lại cao hơn nhờ thiết chế làng xã truyền thống và mạng lưới Mặt trận Tổ quốc.

Trong công trình, các tương quan dữ liệu được trình bày hiệu quả qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu tài chính của 150 tổ chức xã hội, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu mức độ xếp hạng hiệu quả chính phủ giữa các quốc gia trong khu vực. Bảng so sánh chỉ số quản trị phản ánh rõ nét rằng việc phát huy vai trò của các tổ chức công dân không làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Nhà nước, mà trái lại còn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy dân chủ thực chất và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội cần khẩn trương nghiên cứu, ban hành Luật về Hội mới nhằm thay thế Sắc lệnh 102 ban hành năm 1957. Mục tiêu là cắt giảm tối thiểu 40% thủ tục hành chính rườm rà trong đăng ký thành lập hội, hoàn thiện khung pháp lý minh bạch trước quý 4 năm 2008 nhằm tạo hành lang an toàn cho các tổ chức xã hội công dân vận hành đúng tôn chỉ.

Thứ hai, Chính phủ phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết lập quy chế phản biện xã hội bắt buộc đối với 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trọng điểm từ năm 2009. Động từ hành động then chốt là thể chế hóa quyền đóng góp ý kiến của các chuyên gia và mạng lưới dân sự, phấn đấu nâng tỷ lệ tiếp thu ý kiến phản biện xã hội lên mức ít nhất 35% trong quy trình lập pháp.

Thứ ba, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng chính sách ưu đãi thuế và cơ chế ủy thác dịch vụ công cho các tổ chức xã hội. Định hướng giai đoạn 2008 - 2012 cần thúc đẩy đa dạng hóa nguồn tài chính, nâng tỷ lệ đóng góp nội địa lên trên 30% tổng nguồn thu của các tổ chức chuyên đề, giảm tỷ trọng phụ thuộc vào nguồn tài trợ nước ngoài xuống dưới mức 50%.

Thứ tư, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng các bộ ngành chức năng tăng cường đào tạo năng lực quản trị, chuẩn hóa chế độ báo cáo tài chính cho 500 cán bộ lãnh đạo hiệp hội mỗi năm. Mục tiêu đến năm 2010 bảo đảm ít nhất 85% các tổ chức xã hội hoạt động quy mô lớn thực hiện kiểm toán độc lập hàng năm, ngăn chặn triệt để nguy cơ vi phạm pháp luật và lợi ích nhóm tiêu cực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, đại biểu dân cử và cán bộ tham mưu tại Văn phòng Quốc hội, Ban Tuyên giáo và Mặt trận Tổ quốc. Luận văn cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn từ hơn 60 văn bản pháp quy để hoàn thiện thể chế lập hội, nâng cao chất lượng các phiên điều trần và lấy ý kiến nhân dân.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ trong nước, các hiệp hội doanh nghiệp và hội nghiên cứu khoa học trực thuộc các liên hiệp hội. Báo cáo phân tích tài chính giúp các tổ chức này tái cơ cấu mô hình quản trị, giảm thiểu sự phụ thuộc vào 74.2% nguồn vốn quốc tế và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với chính quyền địa phương.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Triết học, Xây dựng Đảng, Luật học và Quản lý công. Nghiên cứu cung cấp 5 bảng số liệu so sánh quốc tế và hệ thống trích dẫn kinh điển chuẩn mực để phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài khoa học chuyên sâu.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia phân tích tại các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc. Tài liệu giúp các chuyên gia nắm bắt chính xác bối cảnh chính trị - xã hội đặc thù của Việt Nam nhằm phân bổ hiệu quả 100% nguồn vốn tài trợ kỹ thuật vì mục tiêu phát triển con người.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm xã hội công dân trong luận văn có đồng nhất với xã hội tư sản theo quan điểm của phương Tây không? Không. Luận văn khẳng định dù C. Mác từng sử dụng thuật ngữ này để chỉ xã hội tư sản, bản chất xã hội công dân tại Việt Nam hiện nay gắn liền với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khảo sát trên 150 tổ chức cho thấy các hội đoàn hoạt động nhằm thúc đẩy phúc lợi cộng đồng chứ không đại diện cho lợi ích chính trị tư sản.

Vai trò quan trọng nhất của xã hội công dân đối với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền là gì? Đó là chức năng phối hợp cung ứng dịch vụ công và thực hiện phản biện xã hội. Trong giai đoạn 2000 - 2005, các tổ chức từ thiện và khuyến học đã huy động nguồn lực xã hội chăm sóc cho hơn 2 triệu lượt người yếu thế, chia sẻ khoảng 15% gánh nặng an sinh của ngân sách tại nhiều vùng khó khăn.

Tại sao cần phân biệt giữa tổ chức quần chúng truyền thống và tổ chức phi chính phủ trong nước? Tổ chức quần chúng được bảo đảm ngân sách nhà nước, sở hữu mạng lưới hành chính rộng khắp 63 tỉnh thành với hàng triệu hội viên. Ngược lại, các tổ chức phi chính phủ vận hành theo cơ chế tự trang trải với hơn 70% vốn quốc tế, có quy mô tinh gọn và linh hoạt trong các dự án phát triển cụ thể.

Luận văn nhận định như thế nào về nguy cơ chệch hướng của các tổ chức xã hội công dân? Nguy cơ này phát sinh khi các tổ chức bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thực hiện diễn biến hòa bình hoặc thiếu minh bạch tài chính. Khoảng 5% các tổ chức thiếu chuẩn mực quản trị có thể gây bất ổn an ninh tư tưởng nếu Nhà nước buông lỏng công tác quản lý và thiếu chế tài giám sát.

Điểm nghẽn pháp lý lớn nhất đối với sự phát triển của các hội đoàn ở nước ta hiện nay nằm ở đâu? Điểm nghẽn nằm ở hệ thống quy phạm pháp luật chậm được đổi mới. Việc áp dụng các quy định từ Sắc lệnh năm 1957 đã lỗi thời khiến hơn 80% tổ chức xã hội mới thành lập gặp vướng mắc về tư cách pháp nhân, chế độ kế toán và quy trình tiếp nhận viện trợ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Kết luận

  • Công trình khẳng định sâu sắc luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin rằng xã hội công dân là nền tảng quy định sự vận động của kiến trúc thượng tầng nhà nước pháp quyền.
  • Nghiên cứu chứng minh mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội công dân tại Việt Nam mang tính tương hỗ, đồng thuận vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, không đối kháng cực đoan.
  • Hệ thống hóa thực trạng hoạt động của hơn 1.000 hội đoàn với sự phân hóa sâu sắc khi 74.2% tài chính các tổ chức chuyên đề phụ thuộc vào nguồn tài trợ nước ngoài.
  • Đề xuất đồng bộ các giải pháp thể chế, trọng tâm là ban hành Luật về Hội và quy chế bắt buộc 100% dự án luật phải qua phản biện xã hội độc lập.
  • Xác lập định hướng khơi thông nguồn vốn xã hội để cải thiện chỉ số quản trị công của Việt Nam đạt mức trung bình cao trong khu vực.

Đóng góp lớn nhất của đề tài là cung cấp cơ sở lý luận kinh điển và số liệu thực chứng xác đáng cho công cuộc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam giai đoạn 2006 - 2007. Các cấp quản lý cần khẩn trương thể chế hóa các kiến nghị trên trong lộ trình lập pháp đến năm 2015. Độc giả quan tâm hãy tiếp tục tra cứu toàn văn tài liệu khoa học này để nắm bắt trọn vẹn những luận cứ chuyên sâu về quản trị phát triển quốc gia.