phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, bản tổng quan đề tài được kết cấu gồm 3 chương với các nội dung sau: THÔNG BáO BẢN GỐC TÀI LIỆU NÀY KHÔNG CÓ TRANG 8 MONG BAN DOC THONG CAM 9 cuộc sống của xã hội như: qui định các mối quan hệ xã hội, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, kiện tụng trong nhân dân. Trong môi trường kinh tế - xã hội và chính trị - pháp lý như vậy, có thể nói rằng, xã hội chuyên chế phương Đông đã không tạo ra những tiền đề cho sự ra đời của xã hội công dân và nhà nước pháp quyền; mặc dù, xét về khía cạnh kinh tế và văn hoá nó có những điểm nổi bật nếu so với xã hội phương Tây đương thời. Vì vậy, nhìn chung xã hội phương Đông vẫn là “xã hội tôn giáo”, “xã hội thân dân”, đặt dưới sự thống trị của chế độ chuyên chế hà khác, trật tự phong kiến và lễ nghi tôn giáo mà không thể có một xã hội công dân như ở phương Tây. Cho đến nay, chúng ta chỉ biết đến các hoạt động và sự tồn tại của các tổ chức xã hội công dân qua phản ánh gián tiếp dưới hình thức các hoạt động cộng đồng như: lễ hội, các hoạt động của dòng họ, thôn xóm hay các sinh hoạt tín ngường - tôn giáo.
mà nó không thực sự trở thành một học thuyết hay tư tưởng trong thực tiễn đời sống chính trị. Khái niệm xã hội công dân, nhà nước pháp quyền xuất hiện và trở thành hiện thực ở phương Đông gắn liền với quá trình xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây. Với sự xâm nhập về kinh tế và văn hoá, xã hội phương Đông chịu ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ các tư tưởng, trào lưu tự do của phương Tây. Sự bóc lột, chèn ép hà khác của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã làm nổi dậy ý thức dân tộc, ý thức cộng đồng, ý thức cá nhân của các dân tộc phương Đông, đây là điều kiện hết sức quan trọng cho sự ra đời của xã hội công dân.
Xã hội công dân ra đời đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại sự thống trị, áp bức của CNTB phương Tây, giành độc lập và xây dựng chính quyền nhà nước của mỗi quốc gia. Xã hội công dân và nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây Theo quan niệm của các nhà tư tưởng phương Tây, xã hội công dân là khái niệm song hành cùng với nhà nước, do đó khi nghiên cứu về vấn đề 10 này chúng ta phải xem xét nó trong mối quan hệ với Nhà nước. Ở phương Tây, vấn đẻ xã hội công dân đã được các nhà tư tưởng chính trị phương Tây nhắc đến từ thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại và đặc biệt từ thế kỷ XVIH - XIX, trước sự phát triển của nhiều trào lưu tư tưởng tiến bộ. Nghiên cứu những tư tưởng về xã hội công dân ở phương Tây thường được xem xết trong mối quan hệ với Nhà nước, dân chủ, các thiết chế tôn giáo, sự hình thành dân tộc và phát triển của CNTB.
Tư tưởng về xã hội công dân, nhà nước pháp quyền đã được Plato (427-347 TCN) nhắc đến trong các tác phẩm của mình như: Chính khách (Statesman), Luật pháp (Laws, 360 TCN) va Nén cộng hoà (Republic, 360 TCN)., những tác phẩm này đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong đời sống chính trị - xã hội, từ luật pháp, Nhà nước, đạo đức, dân chủ. Học thuyết của ông vẫn còn nhiều điểm mang tính chất phản động và duy tâm, song cũng có không ít tư tưởng tiến bộ được các học trò của ông tiếp thu và phát triển. Plato cho rằng: công lý là sản phẩm của sự phát triển xã hội, theo ông luật pháp đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế “nhà lãnh đạo tài đức nhưng khó kiếm được trong thế giới thực tế của con người”; luật pháp chế ngự tính ích kỷ của con người - là nguyên nhân có thể gây mất ổn định xã hội, nó là khuôn mẫu bắt buộc khiến công dân hoạt động theo một phương hướng ổn định. Theo ông, không có luật pháp nào là hoàn hảo, song luật pháp “bao giờ cũng tốt hơn là các quyết định tự ý của những kẻ lãnh đạo bất tài, vô đức”, ông cho rằng: trong một quốc gia dân chủ, quyền lực của chính quyền cần phải được các công dân kiểm soát và chế ngự, lãnh đạo nhà nước cần gạt sang một bên ý chí của cá nhân, phải lấy tôn giáo và pháp luật làm công cụ điều chính hoạt động của xã hội và các công dân.
Ông đã đưa ra mô hình Nocturnal' nhằm giám sát, kiểm soát các hoạt động của chính phủ, thông qua các thành viên của Nocturnal. Mac dù vẫn còn những hạn chế ° Một hình thức cơ quan đân cử il nhất định trong học thuyết của mình, nhưng Plato đã chỉ ra được vai trò của pháp luật, cơ chế giám sát quyền lực của công dân, đây là những yếu tố quan trọng cho việc hình thành nhà nước pháp quyền và xã hội công dân hiện đại. Vấn để xã hội công dân và nhà nước pháp quyền tiếp tục được Aristotle (384-322 TCN) đẻ cập đến trong hai tác phẩm nổi tiếng là Chính trị (Polistics, 350 TCN) và Hiến pháp Athens (Athenian Constiution, 350 TCN). Tán thành ý kiến của Plato, cho rằng con người không thể không có quốc gia; chính khách tài đức có thể xây dựng một quốc gia lý tưởng, từ đó ông hết sức coi trọng việc xây dựng hiến pháp và thể chế pháp trị.
Theo ông thì luật pháp phải được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp, luật pháp phải được thực hiện một cách công bằng và nghiêm khắc; Hiến pháp là cơ sở để phân chia quyền lực nhà nước và thực hiện chế độ thưởng, phạt của quốc gia. Khi bàn về sự tham gia của công dân trong việc xác lập chế độ chính trị, Aristotle cho rằng: công dân có những đóng góp xây dựng quốc gia thì sẽ được giao phó một số quyền lực mang tượng trưng cho sự đóng góp của mình, những người khác, nếu không đóng góp thì sẽ không được đòi hỏi quyền lãnh đạo quốc gia. Theo ông, nếu quyền lực không tập trung và thiểu số lãnh đạo không lạm dụng quyền lực thì sự tồn tại của chính quyền quí tộc dựa trên luật pháp cũng có thể chấp nhận được, ông cho rằng chính thể nhà nước tốt đẹp nhất thì chính thể đó phải do dân trị và vì dân, chính thể đó phải tập trung được đông đảo tầng lớp trung lưu trong xã hội. Aristotle cho rằng, trong xã hội việc tồn tại của các nhóm đối nghịch là tất yếu, cách tốt nhất để xây dựng quốc gia không phải là triệt tiêu các nhóm đối nghịch mà phải kiểm chế họ và hình thức tổ chức chính quyền tốt nhất là phải duy trì sự cân bằng giữa các quyền lực của công dân và quyền lực của chính quyền - đây là tư tưởng cho sự hình thành các “khế ước xã hội” - cơ sở của Hiến pháp, là nguồn gốc pháp lý của nhà nước pháp quyền và xã hội công dân.
Vào thời kỳ Trung cổ, nhà nước, pháp luật phát triển phụ thuộc một cách chặt chế với nhà thờ và giáo lý kinh viện. Sự cấu kết của thần quyền và 12 chính quyền phong kiến đã làm cho quyền tự do cá nhân, công dân và vai trò của nhà nước dân chủ bị thu hẹp; tư cách công dân ít được bàn đến, nó lệ thuộc chặt chế vào xã hội thần dân và xã hội tôn giáo. Tuy nhiên, khi những mâu thuẫn giữa Nhà nước và nhà thờ xuất hiện, đã làm nảy sinh nhu cầu cho sự ra đời của một “khế ước xã hội”- cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Theo đó, người dân sống trên lãnh thổ của các lãnh chúa hứa phải trung thành với các lãnh chúa và các lãnh chúa sẽ bảo vệ họ.
Thời kỳ này, tại một số vùng ở châu Âu, đã bất đầu xuất hiện các cam kết dạng này dựa trên nguyên tắc của chế độ hợp đồng, theo đó, các bên cam kết thực hiện các điều khoản đã thoả thuận, nếu một bên vi phạm, bên kia có quyền rút lại các cam kết, hoặc buộc bên kia chấm dứt hành vi vi phạm. Người dân châu Âu ngày càng ý thức được rằng Giáo hội Cơ đốc không thể thay thế được chính quyền, chính các nhà vua, chứ không phải các giáo sĩ đứng ra giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống hằng ngày của họ, xu hướng liên kết này ngày càng phát triển trước sự lúng túng và mâu thuẫn của Giáo hội Cơ đốc. Trước sự khủng hoảng của Giáo hội Cơ đốc, người dân tỏ ra nghỉ ngờ giáo lý, và tin tưởng vào tư tưởng của Aristotle do di dan A rap va Do Thai đưa vào châu Âu. Trước tình hình đó, Giáo hội Cơ đốc đi đến quyết định cần phải nghiên tư tưởng của Aristotle, nhằm tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong xung đột giữa tư tưởng của ông và giáo lý Thiên chúa, qua đó sẽ “giáo lý hoá” tư tưởng này, và người được giao nhiệm vụ này là Thanh Thomas D’ Aquinas.
Thomas D’ Aquinas (1225-1274) 14 mot trong nhitng nha tu tuéng cd ảnh hưởng lớn của Giáo hội Cơ đốc, học thuyết siêu hình học của ông đã được Giáo Hoàng Jonh XXỊI đưa vào giáo trình cơ bản của của nhà thờ từ năm 1789. D°Aquinas cho rằng con người là một “động vật xã hội”, vì vậy, nhân luật không được trái với luật tự nhiên, Nhà nước không được cấm thần dân sống, hôn nhân, sinh đẻ; lãnh chúa phong kiến không được giết 13 nông nô. Chính quyền không chỉ giúp người dân xây dựng một cuộc sống an lạc mà còn phải xây dựng đất nước thành một nước Chúa, giúp người dân cứu rỗi linh hồn. Theo ông thì vua phải được bầu, chứ không nên “cha truyền, con nối”, quyền uy chính trị đến từ thiên nhiên; ông chia luật pháp ra thành bốn loại: luật bất diệt, luật thiên nhiên, giáo lý và luật con người, nhà vua phải trị quốc bằng luật pháp.
Tuy học thuyết của ông còn nhiều điểm hạn chế và mang tính chất duy tâm, song đây là quan điểm hết sức tiến bộ trong học thuyết nhà nước tôn giáo của ông. Cuộc xung đột giữa thần quyền và chính quyền diễn ra hết sức căng thẳng, trong cuộc chiến này, ý thức dân tộc từng bước được hình thành, nhiều tư tưởng mới ra đời, khẳng định sự thống trị của luật pháp và vai trò của Nhà nước trong đời sống chính trị- xã hội.