CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TỔ CHỨC 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Schein, E.H (1985), Organization Culture and Leadership (Văn hoá tổ chức và sự lãnh đạo), đi sâu vào nghiên cứu về VHTC và quan hệ giữa văn hoá và lãnh đạo, đóng góp quan trọng vào việc hiểu và nghiên cứu về VHTC và tầm quan trọng của lãnh đạo trong việc xây dựng và duy trì văn hoá tổ chức.H đã đưa ra cách phân chia VHTC thành các lớp khác nhau, sắp xếp theo thứ tự phức tạp và sâu sắc khi cảm nhận các giá trị văn hóa của tổ chức.
Đây là cách tiếp cận đi từ hiện tượng đến bản chất của văn hóa thông qua các bộ phận cấu thành của nó. Ba lớp văn hóa theo Schein, E.H bao gồm: (1) Các biểu hiện hữu hình: kiến trúc và diện mạo của tổ chức, ngôn ngữ, các so sánh ẩn dụ, giai thoại, lễ kỷ niệm, lễ nghi, nghi thức, chuẩn mực hành vi…; (2) Những giá trị được tuyên bố: tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi; (3) Các niềm tin ngầm định.Deal và Allan A.Kennedy (1982), Corporate Cultures (Văn hoá tổ chức), đã tìm hiểu và nghiên cứu chìa khoá giúp doanh nghiệp tại Mỹ kinh doanh một cách xuất sắc. Họ trình bày một cách tổng quan về VHTC và ảnh hưởng của nó đến hành vi và hiệu suất của nhân viên trong một tổ chức. Cuốn sách tập trung vào việc xem xét các yếu tố như giá trị, niềm tin, quy tắc và hành vi được chia sẻ và thể hiện trong tổ chức.
Các tác giả đề xuất một số mô hình và khái niệm để giải thích cách VHTC ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp, bao gồm cách tổ chức thích ứng với môi trường ngoại vi và cách nó ảnh hưởng đến hiệu suất và sự phát triển cá nhân của nhân viên. Họ kết luận chính văn hoá là yếu tố then chốt làm nên sự thịnh vượng lâu dài và thành công của một công ty. 5 Ricardo và Jolly (1997), “Organizational and Teams”, cũng khẳng định khi nói đến VHTC, người ta thường nói về một tập hợp các giá trị và niềm tin được hiểu và chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức. Các giá trị và niềm tin này được đặc trưng cho từng tổ chức và để phân biệt giữa các tổ chức này với tổ chức khác.
Văn hóa của một tổ chức giúp xác định và hình thành nên thái độ, hành vi của các thành viên trong tổ chức đó. Nghiên cứu của Ricardo và Jolly đã đưa ra kết qủa nghiên cứu và cho rằng VHTC bao gồm tám thành phần (1) Giao tiếp trong doanh nghiệp, (2) Đào tạo và phát triển, (3) Phần thưởng và sự công nhận, (4) Chấp nhận rủi ro bởi sáng tạo và cải tiến, (5) Làm việc nhóm, (6) Định hướng về kế hoạch tương lai, (7) Sự công bằng và nhất quán trong chính sách quản trị, (8) Hiệu quả của việc ra quyết định. Eric Flamholtz và Yvonne Randle (2011), Corporate Culture: the Ultimate Strategic Asset, tập trung vào vai trò của VHTC như một tài sản chiến lược tối quan trọng đối với sự thành công và phát triển của một doanh nghiệp. Tác giả khám phá cách VHTC ảnh hưởng đến hiệu suất và tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững trong một môi trường kinh doanh thay đổi liên tục.
Công trình của ông đi sâu vào các khía cạnh của văn hoá tổ chức, bao gồm giá trị, niềm tin, phong cách lãnh đạo, quy tắc và hành vi chung trong tổ chức. Tác giả cung cấp các khái niệm và khung công cụ để xây dựng, phát triển và duy trì một VHTC mạnh mẽ, đưa ra các bước thực hiện và quản lý thay đổi văn hoá tổ chức. Tác giả giới thiệu các chiến lược và phương pháp để xác định và thay đổi VHTC hiện tại, tạo ra một VHTC mới phù hợp với mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp. "Corporate Culture: The Ultimate Strategic Asset" là một nguồn tư duy quan trọng cho những người quản lý, lãnh đạo và những ai quan tâm đến văn hoá tổ chức.
Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc và công cụ thực tế để hiểu, phát triển và tận dụng văn hoá tổ chức làm lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày nay. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tiến hành nhiều nghiên cứu và đóng góp vào lĩnh vực văn hoá tổ chức. Dưới đây là một tổng hợp các nghiên cứu quan trọng về văn hoá tổ chức của các nhà khoa học Việt Nam: Dương Thị Liễu (2012) cho rằng VHTC là một trong các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh cùng với triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh nhân, văn hoá tổ chức, văn hóa ứng xử trong kinh doanh và những kỹ năng cần thiết để tổ chức, ứng dụng và phát triển các kiến thức về văn hoá kinh doanh trong hoạt động kinh tế, kinh doanh. Tác giả phân loại các thành tố cấu thành VHTC gồm hữu hình (logo, kiến trúc, cơ cấu …) và vô hình (chiến lược, mục tiêu, triết lý, niềm tin…).
Nguyễn Mạnh Quân (2012) đã trình bày một cách toàn diện vấn đề liên quan đến đạo đức kinh doanh và văn văn hoá công ty (hay còn gọi là Văn hoá doanh nghiệp hoặc VHTC), trách nhiệm xã hội, thương hiệu; xây dựng đạo đức kinh doanh và VHTC trong hoạt động quản lý, tổ chức, marketing và quan hệ khách hàng. Về VHTC, giáo trình đã nêu các biểu trưng, mô hình và các nhân tố ảnh hưởng của VHTC nhằm giúp người đọc hiểu được bản sắc văn hóa của một tổ chức là gì, các biểu hiện của chúng và những tác nhân cơ bản tạo dựng nên văn hoá của một tổ chức. Bùi Xuân Phong (2009), "Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp": Công trình này trình bày khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp, nguyên tắc và quy trình xây dựng văn hoá doanh nghiệp Nguyễn Viết Lộc (2009), “ Văn hoá tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và kinh doanh,25,230-238: Công trình đề cập đến các vấn đề như VHC và VHTC trường đại học, các yếu tố cấu thành VHTC một trường đại học, đặc trưng văn hoá ĐH Quốc gia Hà Nội, mô hình xây dựng VHTC Đại học Quốc gia Hà nội. 7 Nguyễn Việt Hồng (2022), “Một số vấn đề về văn hoá tổ chức trong trường đại học”, Tạp chí Giáo dục (2022), 22(16), 55-59, bài báo trình bày khái quát về các khái niệm, đặc trưng, chức năng của VHTC; đồng thời đề xuất 8 bước phát triển VHTC của trường đại học để tạo động lực phát triển, giảm thiểu các xung đột và nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trong trường đại học.
Đỗ Thành Vinh, Th.s Trương Hoàng Lâm (11/2012), “ Ảnh hưởng văn hoá tổ chức đến sự gắn bó cam kết với nhân viên, trường hợp công ty hệ thống thông tin FPT”, Tạp chí kinh tế và phát triển: Công trình đề cập đến các vấn đề như phương pháp nghiên cứu và mô hình lý thuyết về VHTC, thực trạng văn hoá công ty. Khoảng trống nghiên cứu Văn hoá tổ chức là một đề tài rất được quan tâm cả trong nước và thế giới. Vì vậy tính đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học xoay quanh vấn đề này. Các nghiên cứu đã được thực hiện rất phong phú với phạm vi từ tổng quát đến cụ thể từng doanh nghiệp, từng loại hình kinh doanh, lĩnh vực …Tuy nhiên, nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào về văn hoá tổ chức cũng như tác động của văn hoá tổ chức đến sự phát triển của Greenwich Việt Nam.
Đây là một đề tài thực tiễn liên quan mật thiết đến ngành học Quản trị kinh doanh. Ngoài ra, tác giả cũng là một nhân viên đã làm việc tại Tổ chức giáo dục FPT gần mười năm, sau quá trình dài được quan sát, trải nghiệm và đánh giá nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài này để làm đề tài luận văn cho mình. Cơ sở lý luận về Văn hoá và Văn hoá tổ chức 1. Khái niệm về Văn hoá Văn hóa là một khái niệm rộng và đa chiều, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Có thể nói văn hóa đã tồn tại trong đời sống 8 của tất cả chúng ta từ khi chúng ta chưa nhận thức được về văn hóa. Mặc dù từ “văn hóa” đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ cả ở phương Đông và phương Tây, thế nhưng phải đến thế kỳ XVIII, nó mới được đưa vào khoa học, sử dụng như một thuật ngữ. Theo định nghĩa của E.
Tylor trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” xuất bản năm 1871: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những năng lực, tập quán của tất cả mọi xã hội”. Trong Đề cương về văn hoá (1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp. Theo nghĩa rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người. Người khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Theo Tổ chức văn hoá thế giới (UNESCO) (2022), đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.