CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH REGGIO EMILIA VÀ MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CHO TRẺ MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu ở nước ngoài Các mô hình giáo dục tiến bộ và các nhà triết lý nổi tiếng trên thế giới đều nhận định tầm quan trọng của môi trường đối với giáo dục và luôn khẳng định được vai trò của môi trường. Quan điểm tiên phong đánh giá về tầm quan trọng của môi trường đối với sự phát triển của trẻ từ Friedrich Froebel (1782 – 1852) – Nhà giáo dục nổi tiến người Đức đã khẳng định rằng “Trẻ em có thể học tốt nhất trong môi trường mang đến sự kích thích đối với trẻ và môi trường chuẩn bị cho trẻ có thể khám phá và học hỏi theo quan điểm riêng của mình”. Với quan điểm trên, Froebel đã đã có sự chuẩn bị chu đáo về MTHT cho trẻ hoạt động.
Môi trường lớp học có sự chỉnh chu và an toàn khi trẻ khám phá. Bên cạnh đó, môi trường lớp học trang bị vật liệu đặc biệt phục vụ cho nhu cầu chơi của trẻ, vật liệu được gọi rằng “Froebel gifts”. Trẻ sử dụng món quà từ Froebel để chơi với âm nhạc, hát, nhảy, phát triển các kỷ năng khác. MTHT của lớp học Froebel có nhiều điểm mạnh: giúp trẻ học được cách nhìn vấn đề từ nhiều góc độ và giải quyết một cách độc lập; trẻ có được sự kiên trì khi hoạt động khám phá các vật liệu từ “Froebel gifts”; sự tự tin khi xử lý các tình huống nảy sinh với người cùng chơi; phát triển các kỹ năng vận động, kỹ năng hỗ trợ việc học tập trong tương lai.
Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng cấu trúc của chương trình quá cứng nhắc và môi trường chưa có sự phong phú, các vật liệu chỉ xoay quanh những món quà từ Froebel [39]. Năm 1897, Maria Montessori (31/8/1870 – 6/5/1952) đã đưa ra học thuyết về phương pháp Montessori nổi tiếng thế giới cho đến ngày nay. Cùng lúc đó bà xuất bản nhiều quyển sách viết về triết lý giáo dục của phương pháp Montessori. Gần đây nhất có 2 quyển sách đó là quyển“Maria Montessori: A Critical introduction to key and debates” và “Maria Montessori”.
Trong đó quan điểm về MTHT của bà Maria Montessori được tác giả Marion O’Donnell trình bày rất chi tiết và cụ thể. Môi trường trong lớp học được bố trí theo từng khu vực – nấu ăn; dọn dẹp; làm vườn; nghệ thuật; chăm sóc động vật… Trẻ luôn luôn được di chuyển trong lớp học và không có giới hạn 8 về thời gian khi đứa trẻ làm việc với học cụ của trẻ chọn. Một MTHT đẹp tạo nên sự hứng thú của trẻ và môi trường lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau sẽ hổ trợ trẻ trong quá trình hoạt động, trẻ tự do lựa chọn sự tương tác với bạn hay với cô hay chỉ hoạt động riêng lẻ. Từ đó, trẻ học được thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân trẻ.
Bà Maria Montessori đã nhận định rằng “The teacher’s first duty is to watch over the environment, and this takes precedence over all the rest. It’s influence is indirect, but unless it be well done there will be no effective and permanent results of any kind, physical, intellectual or spiritual” [33]. Tạm dịch là nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên là bao quát toàn bộ môi trường, và điều này cần được ưu tiên hơn tất cả. Nó có ảnh hưởng gián tiếp, nếu không được thực hiện tốt sẽ không có kết quả và hiệu quả lâu dài của các loại, thể chất, trí tuệ hay tình cảm.
Ngoài ra, Maria Montessori đã nói “Người lớn chỉ nên can thiệp gián tiếp lên trẻ, thông qua việc xây dựng và tổ chức kích thích từ môi trường vật chất lên trẻ” và “Chúng tôi phát hiện ra rằng giáo dục không phải là một cái gì đó mà giáo viên không có gì, nó là một quá trình tự nhiên mà phát triển một cách tự nhiên trong con người. Nó không được mua lại bằng cách lắng nghe lời, nhưng trong hành động chứa đựng kinh nghiệm mà trẻ hoạt động trên môi trường của mình. Nhiệm vụ của người giáo viên không phải là để nói chuyện, mà để chuẩn bị và sắp xếp các học cụ, đồ dùng để tạo nên một môi trường đặc biệt cho trẻ. Từ đó cho thấy bà đã nhấn mạnh rằng việc xây dựng môi trường vật chất có ảnh hưởng rất lớn đối với trẻ.
MTHT trong lớp học Montessori là sự sắp đặt gọn gàng những bộ học cụ do bà sáng tạo nhằm kích thích và phát triển tư duy và các kỹ năng ở trẻ. Bà sử dụng chất liệu gỗ cho tất cả những bộ học cụ để tạo cảm hứng gần gũi thiên nhiên ở trẻ. Như vậy, Maria Montessori đã nắm bắt được tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường kích thích trẻ khám phá, tìm tòi nhưng môi trường trong phương pháp của bà còn hạn chế về sự tương tác của trẻ với trẻ, trẻ với người lớn. Cùng với quan điểm của Maria Montessori, Jean Piaget (9/8/1896 – 19/9/1980) đã nói lên quan điểm của ông rằng MTHT là nơi đem đến cho trẻ những cơ hội, hứng thú, tư duy, nhịp độ học hỏi, phong cách học hỏi.
Ngoài các quan điểm trên chúng ta còn thấy được nhiều quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường đối với sự phát triển của trẻ, John Dewey (20/10/1859 – 9 1/6/1952) cho rằng “Người lớn chỉ có một cách để kiểm soát được kiểu giáo dục trẻ nhỏ, đó là cách kiểm soát môi trường mà trẻ đang hoạt động trong đó và cần tổ chức môi trường hợp lý để có thể phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm và xã hội lên trẻ. Môi trường vật chất cần thay đổi theo nhu cầu hoạt động của đứa trẻ” và “Các giáo viên không có trong nhà trường để áp đặt ý tưởng nhất định hoặc để tạo thành thói quen nhất định ở trẻ em, nhưng là có như một thành viên trong nhóm để lựa chọn những ảnh hưởng đó sẽ ảnh hưởng đến trẻ em và giúp đỡ trẻ vào đúng lúc. Gleen Domen (26/8/1919) đã trải qua gần nữa thế kỷ để chứng minh rằng vai trò quan trọng của môi trường trong việc giáo dục trẻ. Ông cho rằng người lớn cần tạo môi trường tốt cho trẻ, kích thích sự hứng thú để trẻ tham gia vào hoạt động.
Điều quan trọng là bầu tâm lý khi tổ chức các hoạt động cho trẻ: cần khơi gợi niềm vui học tập nơi trẻ, giúp trẻ có cơ hội được trải nghiệm. Người lớn giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức và hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt động. Gandini– học trò của Malaguzi, MTHT là nơi trẻ cảm thấy an toàn và trẻ được vui chơi, thử nghiệm và khám phá. Đối với ba mẹ, đây là nơi họ tin tưởng vào sự chăm sóc và giáo dục của người giáo viên đối với con họ, và nơi đây họ luôn được chào đón, tôn trọng.
Bên cạnh đó, đối với nhà giáo dục thì đây cùng là nơi mà họ làm việc và tạo nên mối quan hệ gắn bó với trẻ, với phụ huynh và cùng đồng nghiệp của mình [21]. Loris Malaguzi - người sáng lập ra mô hình giáo dục Reggio Emilia, môi trường được coi là có tiềm năng khi chúng mang lại cảm hứng cho trẻ. Thiết kế môi trường với đầy đủ ánh sáng tự nhiên, ngăn nắp và đẹp với không gian mở thông thoáng khuyến khích sự hợp tác, tương tác, giao tiếp và khám phá. Bố trí nguyên vật liệu mở, vật liệu thiên nhiên ở các góc khuyến khích trẻ tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn nữa những điều trẻ quan tâm.
Reggio Emilia là mô hình giáo dục ra đời từ năm 1945 đến nay, Reggio Emilia đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục và được sự tin tưởng của các bậc phụ huynh trên thế giới. Mô hình Reggio Emilia được hình thành ở miền Bắc nước Ý vào năm 1945, tại vùng Reggio Emilia – một vùng đất giàu có của đất nước Ý. Nguồn gốc chính là sau chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, người dân ở một ngôi làng nhỏ tên Villa Cella gần thị trấn Reggio Emilia cùng nhau muốn xây dựng lại cộng đồng sau một thời gian dài rối loạn về chính trị - xã hội và lực lượng lao động nữ cần 10 phải quay trở lại với lao động. Lúc bấy giờ, Loris Malaguzi – một giáo viên trẻ, nắm bắt được nhu cầu thực tiễn của cộng đồng là mong muốn xây dựng trường mầm non, mong muốn thế hệ tương lai không phải chịu đựng sự bất bình đẳng và đứa trẻ phải biết mình là ai.
Loris Malaguzi đã vận dụng kinh nghiệm giáo dục của bản thân, đồng thời tiếp thu tri thức, mong muốn, nhu cầu đặc biệt của những người phụ nữ và ông truyền cảm hứng đến họ, cùng họ sáng lập nên mô hình dạy học Reggio Emilia. Loris Malaguzi đã từng nói “ It was based on the intiative of women who had developed their awareness through all the terrible experiences of war and through the struggle for liberation, through the resistance…Without these women we would never have seen not just the birth, but the survival of this kind…[22]” dịch là “Nó được dựa trên sáng kiến của những người phụ nữ, họ đã phát triển kinh nghiệm của bản thân từ chiến tranh khủng khiếp, từ cuộc đấu tranh giải phóng, những cuộc kháng chiến… Nếu không có những người phụ nữ chúng ta sẽ không bao giờ thấy được sự ra đời của loại hình này” để khẳng định sự đóng góp to lớn của những người phụ nữ trong việc hình thành mô hình giáo dục Reggio Emilia. Chính bởi xuất phát từ ý tưởng của bậc phụ huynh mà họ nên đã tạo ra được một mô hình dạy học nhân văn, gần gũi, dựa trên những nguyên tắc trách nhiệm, tôn trọng, và cộng đồng cao. Đến năm 1963 triết lý về mô hình giáo dục Reggio Emilia được công nhận bởi luật quốc gia.
Đến năm 1971 các trung tâm trẻ sơ sinh đầu tiên được thành lập và về sau phát triển một cách nhanh chóng. Các trường mầm non được xây dựng sau chiến tranh thế giới thứ 2 ngày càng tăng và thì triết lý của mô hình dạy học Reggi Emilia ngày càng được mở rộng. Vào năm 1991, tạp chí Newsweek đã công nhận trường mầm non Reggio Emilia là một trong những ngôi trường mầm non tốt nhất thế giới. Ngày nay, mô hình dạy học này đang được ứng dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, New Zealand và nhiều đất nước phát triển khác.
Nói đến Loris Malaguzzi (1920 – 1994), tại Correggio, gần Reggio Emilia. Ông lớn lên dưới sự cai trị của chế độ Phát Xít. Năm 1946 Loris Malaguzzi đã đến Roma để học khóa học đầu tiên về tâm lý của trung tâm nghiên cứu quốc gia (CNR).