Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Lịch sử với đề tài "Di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng" do sinh viên Đỗ Thị Trang thực hiện năm 2013 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn của giảng viên Nguyễn Văn Nam. Nghiên cứu tiếp cận đối tượng từ góc độ lịch sử - văn hóa địa phương, tập trung làm rõ giá trị vật thể và phi vật thể của quần thể tưởng niệm danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị thế đặc biệt của huyện Vĩnh Bảo – vùng đất giàu truyền thống văn hóa xứ Đông, nơi lưu giữ nhiều di tích gắn với các thời kỳ lịch sử như chùa Mét, miếu Bến, chùa Đồng Quan, miếu Cựu Điện, miếu Ba Vua. Nổi bật nhất trong hệ thống này là quần thể di tích và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại làng Trung Am, xã Lý Học. Mặc dù Việt Nam có hàng trăm lễ hội và di tích lịch sử quốc gia, song khu di tích đền Trạng Trình mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của một bậc đại danh tri thức thế kỷ XVI.

Khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào tiểu sử, tư tưởng triết học, giai thoại, sấm ký và thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (như công trình của Phạm Đan Quế, Nguyễn Nghiệp, Phạm Minh Thảo, Lương Cao Rính, hay Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 400 năm ngày mất của danh nhân năm 1985). Tài liệu chuyên khảo về di tích chủ yếu là cuốn sách do Ủy ban Nhân dân xã Lý Học biên soạn. Chưa có công trình nào khảo cứu một cách hệ thống, toàn diện và có cấu trúc logic về toàn bộ quần thể di tích kết hợp với hoạt động lễ hội truyền thống tại địa phương. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này mang tính cấp thiết cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn quản lý di sản.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu toàn diện về di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát về thân thế và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XVI.
  2. Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của di tích lịch sử và các nghi thức lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; qua đó đánh giá thực trạng quản lý để đề xuất giải pháp bảo tồn, tôn tạo.
  3. Phân tích vai trò, đặc điểm cùng các giá trị văn hóa, giáo dục, tâm linh và kinh tế - xã hội của khu di tích và lễ hội.

Đối tượng nghiên cứu là di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phạm vi nghiên cứu được xác lập cụ thể:

  • Về thời gian: Lịch sử hình thành và phát triển của di tích được khảo sát từ năm 1585 đến năm 2012; hoạt động lễ hội được khảo sát tập trung từ mốc trùng tu năm 1927 đến năm 2012.
  • Về không gian: Không gian trọng tâm là quần thể di tích và địa bàn tổ chức lễ hội tại làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; đồng thời mở rộng liên hệ đến một số di tích liên quan tại Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình và khu vực Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nghiên cứu lịch sử, bảo đảm tính khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm sự kết hợp giữa:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hình thành, biến đổi của ngôi đền và lễ hội qua các mốc thời gian từ thế kỷ XVI (thời Mạc), thời Lê Trung Hưng, thời Nguyễn đến giai đoạn đương đại (1985–2012).
  • Phương pháp logic: Phân tích, xâu chuỗi các mối liên hệ giữa điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng đất Vĩnh Bảo với sự hình thành nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng như tác động qua lại giữa di tích với đời sống tín ngưỡng cộng đồng.

Bên cạnh hai phương pháp chủ đạo, người viết sử dụng phối hợp các phương pháp bổ trợ:

  • Sưu tầm, thu thập và xử lý tư liệu thư tịch cổ, văn bia, thần tích, phả ký.
  • Khảo sát thực địa, miêu tả, tường thuật không gian kiến trúc và quy trình tế lễ.
  • Thống kê, phân tích, so sánh các nguồn tài liệu để xác minh sự kiện và niên đại lịch sử.

Nguồn dữ liệu chính của đề tài bao gồm các phả ký (Bạch Vân Am cư sĩ phả ký của Vũ Khâm Lân soạn năm 1743), chính thư triều Nguyễn (Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lược), tác phẩm văn học địa phương (Hải Dương phong vật khúc của Trần Huy Phác năm 1812), các văn bia lưu giữ tại di tích (Trung Tân quán bi ký, Từ vũ bi ký), cùng các kỷ yếu hội thảo khoa học cấp quốc gia và tư liệu quản lý của chính quyền địa phương huyện Vĩnh Bảo.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về thân thế sự nghiệp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương đầu tiên phác họa toàn cảnh về không gian văn hóa nơi danh nhân sinh trưởng, hành trạng cuộc đời và vị trí của ông trong tâm thức văn hóa dân tộc qua ba nội dung chính:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng: Huyện nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam Hải Phòng với diện tích tự nhiên trên 180 km², dân số trên 19 vạn người, gồm 1 thị trấn và 29 xã, bao bọc bởi sông Luộc, sông Hóa và hạ lưu sông Thái Bình. Vùng đất này có truyền thống hiếu học và khoa bảng nổi bật xứ Đông ("Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện"), sở hữu 1 trạng nguyên, 1 bảng nhãn, 1 hoàng giáp, 1 phó bảng và 11 đồng tiến sĩ. Vĩnh Bảo còn phát triển nhiều nghề thủ công như tạc tượng Bảo Hà (gắn với nghệ nhân Tô Phú Vượng), dệt vải Cổ Am, dệt chiếu cói, múa rối nước Nhân Hòa, múa rối cạn Đồng Minh và hội thi pháo đất dân gian.
  • Thân thế sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Danh nhân sinh năm Tân Hợi (1491, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời Lê Thánh Tông), tên thuở nhỏ là Nguyễn Văn Đạt; mất năm Ất Dậu (1585), thọ 95 tuổi. Thân phụ là cụ Nguyễn Văn Định (Cù Xuyên tiên sinh, truy tặng Thái Bảo nghiêm quận công), thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục (con gái Thượng thư Nhữ Văn Lan). Năm 1535 (đời Mạc Đăng Doanh), ông đỗ đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) và đỗ đầu thi Đình (Trạng nguyên). Sau khi giữ nhiều trọng trách (Đông các Đại học sĩ, Tả thị lang Bộ Hình, Tả thị lang Bộ Lại), đến tháng 8 năm Nhâm Dần (1542), sau khi dâng sớ xin chém 18 lộng thần không được vua chấp thuận, ông treo ấn từ quan về quê dựng Am Bạch Vân, Quán Trung Tân mở trường dạy học suốt 43 năm. Ông đào tạo nhiều nhân tài như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Đinh Thời Trung, Nguyễn Quyện. Về trước tác, ông để lại Bạch Vân am thi tập (chữ Hán), Bạch Vân quốc ngữ thi (chữ Nôm) và kho tàng Sấm ký.
  • Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức của người dân Việt Nam: Tác giả hệ thống hóa sự tôn kính của sĩ phu và nhân dân qua nhiều thế kỷ: được tôn xưng "Tuyết Giang phu tử", được vua Mạc lập đền truy tặng danh hiệu "Mạc triều Trạng nguyên tể tướng từ", dân bốn thôn Trung Am và làng Thanh Am (Gia Lâm) tôn làm Thành hoàng, Đạo Cao Đài suy tôn là Đệ nhất Thánh trong Tam thánh. Kho sấm ký gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử (lời khuyên nhà Mạc lên Cao Bằng, khuyên Nguyễn Hoàng mở cõi phía Nam, khuyên chúa Trịnh giữ nhà Lê, các dự ngôn về khởi nghĩa Yên Bái 1930, Thế chiến thứ hai, Cách mạng Tháng Tám 1945).

Chương 2: Di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Chương này đi sâu khảo sát quy mô quần thể di tích và quy trình tổ chức lễ hội truyền thống tại địa phương:

  • Lịch sử hình thành và phát triển ngôi đền: Tháng Giêng năm Bính Tuất (1586), vua Mạc ban 3.000 quan tiền và 100 mẫu ruộng thờ để lập đền trước dinh quán Trạng. Năm 1592, đền bị quân Trịnh tàn phá. Đến năm Vĩnh Hựu thứ nhất (Ất Mão 1735), dân làng dựng lại đền trên nền nhà dạy học cũ (hiện còn bia Từ vũ bi ký tạo năm Bính Thìn 1736). Ngôi đền hiện nay mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn sau đợt trùng tu năm Mậu Thìn (1927). Năm 1991, đền được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia. Toàn bộ quần thể hiện nay được quy hoạch trên diện tích 5,7 ha.
  • Các hạng mục công trình trong khu di tích:
    • Nhà thờ chính (Đền Trung Am): Xây theo kiểu chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung; bên trong đặt tượng gỗ Nguyễn Bỉnh Khiêm do nghệ nhân Hoàng Sầm tạc năm 1991, treo bức đại tự "An Nam Lý Học" do sứ giả nhà Thanh Chu Sán đề tặng.
    • Bạch Vân Am: Phục dựng trên nền đất cũ gồm 3 gian gỗ lợp mái cói, phía trước đặt quần thể tượng tái hiện cảnh cụ Trạng dạy học và tiếp đón môn sinh, sứ giả.
    • Nhà thờ song thân phụ mẫu: Khánh thành năm 2011 nhân kỷ niệm 520 năm ngày sinh danh nhân, xây dựng hoàn toàn bằng gỗ lim với kinh phí khoảng 45 tỷ đồng.
    • Phần mộ cụ Nguyễn Văn Định: Tọa lạc giữa cánh đồng sau đền, gắn với giai thoại phong thủy tấm bia đá cổ và quan Thượng Tứ (Tổng đốc Hải Dương).
    • Tháp bút Kình Thiên: Dựng trên gò đất cổ do học trò Trạng Trình tạo lập cách đây hơn 400 năm nhằm ca ngợi tài năng thầy như "cột chống trời".
    • Chùa Song Mai và Nhà tổ: Ngôi chùa do Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng cho người vợ thứ ba là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt tu tại gia; nơi đây lưu giữ dấu tích việc Trạng Trình tiếp sứ giả của chúa Trịnh Kiểm năm 1556 ("thờ Phật thì được ăn oản").
    • Quán Trung Tân: Dựng lại năm 2001 bên bến đò sông Hàn; tại đây đặt bia đá Thanh Hóa cao 1,5m phục chế năm 2000 khắc 800 chữ bài văn bia Trung Tân quán bi ký.
    • Nhà trưng bày hiện vật: Kiến trúc mái bát giác, lưu giữ phôi tích cầu đá Trường Xuân Kiều (tạo tác năm 1543), các bản dịch thơ văn và sấm ký.
    • Tượng đài và các công trình phụ trợ: Tượng đài Trạng Trình bằng đá Granit cao 5,7m, nặng 8,5 tấn; 2 bức phù điêu đá cao hơn 5m, dài hơn 20m; hồ Bán Nguyệt rộng 1.000m²; 3 khu vườn tượng đá tỷ lệ 1:1.
  • Lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Tổ chức thường niên từ ngày 26 đến 29 tháng 11 âm lịch (chính hội ngày 28/11 – ngày mất của danh nhân). Quy trình lễ nghi cổ truyền gồm ba nghi thức bắt buộc:
    • Lễ Mộc Dục (Tắm tượng): Thực hiện ngày 23 tháng 11 âm lịch; người thực hiện phải giữ thân thể chay tịnh trước một tuần.
    • Lễ Rước Văn và Lễ Cáo Yết: Chuẩn bị công phu thông qua việc chọn lựa đội tư văn gồm 22 cụ thọ từ 55 tuổi trở lên thuộc dòng họ Nguyễn làng Trung Am, bầu 1 cụ chủ tế có gia đình êm ấm, đức độ để hành lễ.
Hạng mục di tích Thời gian khởi dựng / Trùng tu lớn Vật liệu / Quy mô kiến trúc Ý nghĩa lịch sử - văn hóa
Nhà thờ chính 1586, 1735, 1927, 1985, 1991 Kiến trúc chữ Đinh (5 gian tiền tế, 2 gian hậu cung), tượng gỗ Thờ tự Trạng Trình; lưu giữ bức đại tự "An Nam Lý Học" và bia đá 1736
Bạch Vân Am Khởi dựng 1542; phục dựng đương đại 3 gian gỗ, lợp mái cói, vườn tượng lớp học Nơi danh nhân mở trường dạy học, sáng tác thơ ca và đàm đạo thời cuộc
Nhà thờ song thân Khánh thành năm 2011 Gỗ lim, kiến trúc chữ Đinh, kinh phí ~45 tỷ đồng Tri ân công lao dưỡng dục của cụ Nguyễn Văn Định và bà Nhữ Thị Thục
Chùa Song Mai Thế kỷ XVI; trùng tu nhiều lần Gồm chùa chính, nhà tổ thờ bà Minh Nguyệt, nhà khách Nơi tu tại gia của bà ba danh nhân; nơi ghi dấu câu sấm cho chúa Trịnh năm 1556
Quán Trung Tân 1542; phục dựng năm 2001 3 gian ven sông Hàn; bia đá Thanh Hóa cao 1,5m Nơi dừng chân nghỉ ngơi cho dân chúng; lưu giữ triết lý "Trung Tân" (800 chữ)
Tháp bút Kình Thiên Thế kỷ XVI; xây lại thời Nguyễn Tháp đá dựng trên gò đất nổi giữa cánh đồng Biểu tượng ca ngợi tài trí danh nhân như cột chống trời
Tượng đài danh nhân Giai đoạn mở rộng sau 1991 Đá Granit cao 5,7m, nặng 8,5 tấn; 2 phù điêu dài >20m Tôn vinh hình tượng danh nhân văn hóa dân tộc tại quảng trường lễ hội

Chương 3: Vai trò, đặc điểm di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng

Chương 3 tổng kết các giá trị cốt lõi của di tích và lễ hội:

  • Đặc điểm di tích và lễ hội: Là quần thể tưởng niệm lâu đời ăn sâu vào tiềm thức nhân dân; có quy mô không gian lớn nhất trong số các di tích thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm; mang bản sắc độc đáo khi tích hợp cảnh quan làng quê sông nước đặc trưng Bắc Bộ với các công trình tượng đài, phù điêu mang tính nghệ thuật cao.
  • Vai trò và giá trị: Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của người dân; phát huy truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo; củng cố tính cố kết cộng đồng làng xã qua việc duy trì lệ họ và lễ thức truyền thống; đóng góp vào sự phát triển kinh tế - du lịch của huyện Vĩnh Bảo và thành phố Hải Phòng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học cụ thể dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu lịch sử và điền dã:

  • Khảo sát hệ thống hóa quy mô di tích: Làm rõ quá trình phát triển từ ngôi đền sơ khởi năm 1586, qua đợt phục dựng năm 1735, đại tu năm 1927, đến các mốc quy hoạch nâng cấp năm 1985, 1991 và 2011, mở rộng khuôn viên di tích đạt 5,7 ha với tổng mức đầu tư nhiều giai đoạn lên đến hàng trăm tỷ đồng (trong đó riêng nhà thờ song thân phụ mẫu là 45 tỷ đồng).
  • Phục dựng bức tranh nghi lễ: Xác lập và ghi chép chi tiết quy trình 3 nghi thức lễ cổ truyền (Lễ Mộc Dục, Lễ Rước Văn, Lễ Cáo Yết) do dòng họ Nguyễn và nhân dân làng Trung Am duy trì với các tiêu chuẩn khắt khe về đội ngũ tế tự (đội tư văn 22 cụ cao niên).
  • Đề xuất giải pháp bảo tồn: Tác giả nhấn mạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tâm linh, bảo tồn nguyên trạng các hiện vật gốc (như tấm bia Từ vũ bi ký, phôi tích Trường Xuân Kiều), duy trì nghiêm ngặt các nghi thức truyền thống tránh thương mại hóa, đồng thời đầu tư hạ tầng giao thông kết nối các tuyến du lịch di sản văn hóa xứ Đông.

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp lý luận: Cung cấp công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên có tính hệ thống về cả hai thành tố: di tích vật thể và lễ hội phi vật thể của đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho ngành quản lý văn hóa địa phương trong việc hoạch định chính sách tôn tạo di tích và phát triển du lịch bền vững tại huyện Vĩnh Bảo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn thời gian thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, nguồn tư liệu Hán Nôm tại các văn bia và thần tích chưa được dịch thuật trọn vẹn toàn bộ văn bản; phạm vi khảo sát thực địa chủ yếu tập trung tại thôn Trung Am, xã Lý Học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh quần thể di tích Trung Am với hệ thống các đền, miếu thờ Trạng Trình tại các địa phương khác (như đền thờ tại xã Thanh Am - Gia Lâm, đền thờ tại Thái Bình, Hải Dương và các thiện đàn, cơ sở thờ phụng thuộc đạo Cao Đài ở Nam Bộ); khảo cứu văn bản học sâu hơn đối với các dị bản thơ văn và sấm ký truyền khẩu trong dân gian.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ học tập và nghiên cứu cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học và Di sản văn hóa.
  • Cán bộ quản lý văn hóa - thông tin, bảo tồn bảo tàng tại Hải Phòng và các tỉnh lỵ khu vực đồng bằng sông Hồng.
  • Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm tư liệu khảo cứu chi tiết về danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, lịch sử xứ Đông thời Mạc - Lê, hoặc mô hình tổ chức lễ hội truyền thống đồng bằng Bắc Bộ.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm: Chương 2 với hệ thống miêu tả tường tận các hạng mục kiến trúc, giai thoại văn bia và quy thức tế lễ truyền thống; cùng Chương 1 với sự tổng hợp logic các nguồn thư tịch cổ đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm qua các thời kỳ lịch sử.


Câu hỏi thường gặp

1. Khu di tích đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay có diện tích bao nhiêu và bao gồm những hạng mục kiến trúc chính nào?
Toàn bộ quần thể di tích được quy hoạch trên diện tích 5,7 ha tại làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo. Các hạng mục chính gồm: Nhà thờ chính (Đền Trung Am), Bạch Vân Am, Nhà thờ song thân phụ mẫu, Chùa Song Mai và Nhà tổ, Quán Trung Tân, Tháp bút Kình Thiên, Phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, Nhà trưng bày hiện vật, Tượng đài Trạng Trình bằng đá Granit, hồ Bán Nguyệt, hồ Thái Nhâm và hệ thống vườn tượng.

2. Ba nghi lễ cổ truyền bắt buộc trong Lễ hội đền Trạng Trình là gì và được chuẩn bị như thế nào?
Ba nghi lễ chính gồm: Lễ Mộc Dục (tắm tượng, bao sái đồ thờ vào ngày 23/11 âm lịch), Lễ Rước Văn và Lễ Cáo Yết. Để thực hiện, dòng họ Nguyễn làng Trung Am tuyển chọn đội tư văn gồm 22 cụ từ 55 tuổi trở lên, có sức khỏe và thành thạo bài tế; trong đó chọn 1 cụ có đạo đức trong sạch, gia đình hoàn thiện làm người chủ tế.

3. Ngôi đền thờ Trạng Trình trải qua những mốc lịch sử xây dựng và trùng tu quan trọng nào?
Đền được lập lần đầu vào tháng Giêng năm 1586 do vua Mạc ban 3.000 quan tiền. Năm 1592 bị quân Trịnh tàn phá. Năm 1735 (đời Lê Ý Tông) nhân dân dựng lại đền trên nền nhà dạy học cũ. Đền được đại tu năm 1927 mang nét nghệ thuật thời Nguyễn, sau đó tiếp tục được trùng tu, tôn tạo lớn vào các năm 1985, 1991 (xếp hạng Di tích quốc gia) và năm 2011 (khánh thành nhà thờ song thân).

4. Nội dung bài văn bia "Trung Tân quán bi ký" thể hiện triết lý gì của Nguyễn Bỉnh Khiêm?
Bài văn bia khắc năm 1542 giải thích ý nghĩa tên quán: "Trung" là giữ được tính toàn thiện, ngay thẳng, không vụ lợi, lấy lòng chí thành đối đãi với người; "Tân" là bến đỗ đúng đắn, hướng thiện, tránh bến mê. Đây là thông điệp giáo dục đạo đức, nhân nghĩa cho người đời mà danh nhân muốn gửi gắm khi dựng quán ven sông Hàn.

5. Nhà trưng bày hiện vật của khu di tích còn lưu giữ hiện vật gốc tiêu biểu nào gắn liền với Nguyễn Bỉnh Khiêm?
Nhà trưng bày lưu giữ một phần phiến đá gốc của cây cầu đá mang ba chữ Hán "Trường Xuân Kiều" do Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng nhân dân trong vùng xây dựng năm 1543 để bắc qua con mương nhỏ dẫn vào chùa Mét, nơi sinh thời ông thường lui tới vãn cảnh, đàm đạo thơ văn.


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Đỗ Thị Trang đã khảo cứu một cách toàn diện và có hệ thống về quần thể di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Công trình làm sáng tỏ tiến trình lịch sử từ khi khởi dựng đền năm 1586 đến diện mạo khang trang quy mô 5,7 ha ngày nay, đồng thời ghi chép chi tiết các nghi thức tế lễ cổ truyền được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm vóc tư tưởng của danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm và cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.